Chương trình tại chức ngoại ngữ: tiếng Anh

Tại chức hay không tại chức?

Gần đây trên báo rộ lên sự kiện Sở Nội vụ Đà Nẵng loại đối tượng có bằng tại chức tuyển dụng vào cơ quan nhà nước tại khu vực này. Gõ “không tuyển tại chức vào cơ quan nhà nước”, google cung cấp 160000 kết quả sau 18 giây. Quyết định này rấy lên một làn sóng tranh cãi ở hầu hết các trang báo từ trong nước tới nước ngoài: tại chức anh là ai? Nên duy trì hay xóa bỏ hệ này? Quyết định này hợp lệ hay vi phạm Luật giáo dục? giải pháp cho hệ này như thế nào? Đồng thời quyết định này cũng ảnh hưởng không nhỏ tới tinh thần, thái độ học tập giảng dạy của học viên và giáo viên khối tại chức[2].

Đây là tiếng nói của người trong cuộc về cảm nhận các loại hình đào tạo của ViệtNam. Bài này thể hiện góc nhìn riêng của giảng viên về vấn đề này.

Bỏ qua các tranh luận nên hay không nên, được phép hay không được phép, tôi xin tập trung vào vấn đề cơ bản mong muốn nhà trường có thái độ rõ ràng hoặc quyết liệt cải tiến chương trình đào tạo tại chức tiếng Anh tại đại học Hà Nội, hoặc xóa bỏ hoàn toàn hệ này không đào tạo tiếp nữa nếu không có định hướng chỉ đạo để cải tiến chương trình, phương pháp giảng dạy phục vụ lợi ích của người học.

Sinh viên: qua trao đổi tại giờ dạy, nhiều học viên tỏ thái độ không bằng lòng về chương trình học ở tất cả các môn, chủ yếu liên quan tới thực hành tiếng: giáo trình, chương trình EDO, thiếu kiến thức cơ bản do giáo viên coi nhiều điều là đương nhiên học viên phải biết nên không dạy bài bản. Các kĩ năng học không có liên hệ với nhau nên khó theo dõi. Trên lớp các hoạt động thụ động không kích hoạt sinh viên hoạt động ngoài giờ, các chủ đề trong sách nhiều khi xa lạ, không thực tế v.v. Kết quả là thời gian học nhiều nhưng học viên không cảm thấy hài lòng về lượng thời gian tương ứng với hiệu quả của khóa học.

Cơ sở vật chất phục vụ học tập kém. Các lớp không có trang bị kĩ thật để hỗ trợ học tập.

Nếu sinh viên được dạy cách học tích cực ngay từ khi mới nhập học và các giáo viên có phương pháp dạy thống nhất giữa các bộ môn thì kết quả sẽ khả quan hơn nhiều.

Cảm giác chung của nhiều sinh viên được hỏi là sau khi học hết các khóa thực hành tiếng vẫn chưa cảm nhận được trình độ của mình nâng cao là bao, thậm chí có người nói “nếu có cải thiện tiếng là do tự học hoặc do học ở nơi khác bổ trợ, chứ không thu được gì từ các khóa học ở khoa”. Một sự thật đáng buồn nhưng rất đáng tiếc đó là một trong số  những phản hồi của học viên khi trao đổi cởi mở để kiếm tìm giải pháp xử lí tình trạng hiện tại.

Giáo viên: Học viên thụ động, lười, bận, lơ đãng học hành, không tích cực trong các hoạt động trên lớp, thiếu kiến thức nền là những nhận xét được trích từ các bài báo cáo khoa học tại khoa của các giáo viên dạy các kĩ năng tiếng trong khoa.

Cơ sở vật chất kém. Lớp học chỉ có bàn, ghế, bảng chưa đủ điều kiện để giúp cho giáo viên cải tiến phương pháp giảng dạy. Tại các giờ lý thuyết tiếng, học viên được khuyến khích học theo phương pháp tích cực, lấy người học làm trọng tâm, thay cho các giờ thuyết trình một chiều của giáo viên.

Với các lớp giáo viên tổ chức học tích cực cho học viên thì tốn kém tiền học viên và của giáo viên bởi không có các yêu cầu thiết bị tối thiểu phục vụ lớp học khiến học phải thực hiện những phương pháp thủ công: làm pano từ các tờ lịch cũ, phải mất công viết bài bằng tay nên làm chậm hóa việc chuẩn bị các hỗ trợ cần thiết cho bài trình bày. Mọi hoạt động bổ trợ khác, giáo viên đều dùng tiền cá nhân để bổ sung phục vụ cho giờ dạy.

Bản thân học viên khi được yêu cầu học tích cực thì thiếu nhiều kĩ năng cần thiết: trình độ tiếng nhìn chung kém, chưa có khả năng tạo những kết cấu đơn giản, ít làm bài trình bày nên không đủ tự tin, ngại nói trước đám đông do các kĩ năng này chưa được rèn luyện thường xuyên tại các giờ thực hành tiếng trước đó, hoặc nếu có được luyện thì do lí do nào đó mà chưa đáp ứng được về điều kiện tối thiểu để thực hiện giờ học tích cực. Điều này cần có kiểm tra đánh giá cụ thể để xác định nguyên nhân một cách khoa học, không chỉ thuần túy thông qua cảm quan của giáo viên, hoặc chỉ dựa vào đánh giá hết môn của các kì thi thực hành tiếng, có thể chưa đủ tin cậy để đánh giá trình độ học viên. Và đây chính là việc cần làm ngay để cải thiện tình hình.

Nhà trường: cần có một định hướng chung cho phát triển chương trình tại chức ngoại ngữ. Chương trình này cần thống nhất cho các thứ tiếng, với mục tiêu đào tạo riêng, không coi tại chức là hệ thấp hơn chính qui và không nên áp đặt chương trình chính qui vào tại chức. Giáo viên giảng dạy các bộ môn cần phải được trao nhiều quyền hơn nữa nhằm giúp chấn chỉnh tinh thần học tập của sinh viên.

Mục tiêu chính của đào tạo tại chức ngoại ngữ là sử dụng ngoại ngữ như một công cụ, không phải sử dụng ngoại ngữ như một nghề. Với đối tượng này, cần thiết phải được cải tiến chương trình bộ môn sao cho phù hợp với mục tiêu đề ra.

Tổ chức: hệ đào tạo tại chức cần phải hoặc thu gom về một mối với sự kiểm soát chuyên môn, tổ chức quản lí sinh viên thống nhất, hoặc giao hẳn cho từng  khoa tự đào tạo, tự chịu trách nhiệm (như các khoa khác đang làm), không xé lẻ như hiện nay (như với tiếng Anh) dễ tạo cảm giác nhà trường manh mún, chia “quyền lợi”, không vì mục tiêu giảng dạy mà vì mục tiêu lợi nhuận.

Nói chung các hệ đào tạo (chính qui, tại chức, từ xa, văn bằng hai v.v.) chỉ nên coi là hình thức học để phù hợp cho người học, nhưng chuẩn chất lượng cần phải được thống nhất, tiến tới xóa bỏ đánh giá theo kiểu “chính qui”, “phi chính qui”. Tuy nhiên, như đã trình bày, mục đích học tại chức của học viên ngoại ngữ chủ yếu là công cụ học tập, không phải là một nghề chính như đối với sinh viên hệ chuyên ngữ, do vậy cần phải được quan tâm rõ ràng từ phía nhà trường.

Theo Luật Giáo dục: Hệ đào tạo đang hiện hành tại Việt Nam, theo Luật Giáo dục[1] thì hiện nay hệ thống văn bằng của Việt Nam có những hình thức sau:

« Điều 8. Văn bằng, chứng chỉ

1. Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân được cấp cho người học sau khi tốt nghiệp cấp học hoặctrình độ đào tạo theo quy định của Luật này.

Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân gồm bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, bằng tốt nghiệp trung cấp, bằng tốt nghiệp cao đẳng, bằng tốt nghiệp đại học, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ »

Tại điều 12, có qui định rõ về Xã hội hóa giáo dục, cụ thể là :

« Điều 12. Xã hội hóa sự nghiệp giáo dục

Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân.

Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục.

Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn »

Mục tiêu của giáo dục đại học được thể hiện ở Điều 41:

Điều 39. Mục tiêu của giáo dục đại học  

« 1.Mục tiêu của giáo dục đại học là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

2. Đào tạo trình độ cao đẳng giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành cơ bản để giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành được đào tạo.

3. Đào tạo trình độ đại học giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn và có kỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo »

Phương pháp giáo dục đại học :

« 2. Phương pháp đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng ».

Mục 5 : giáo dục thường xuyên, hướng tới xã hội học tập suốt đời. Điều 44 ghi rõ : Giáo dục thường xuyên giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội.

2. Các hình thức thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:

a) Vừa làm vừa học;

b) Học từ xa;

c) Tự học có hướng dẫn.

4. Phương pháp giáo dục thường xuyên phải phát huy vai trò chủ động, khai thác kinh nghiệm của người học, coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, sử dụng phương tiện hiện đại và công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học”.

***************

Như vậy, tại chức, hay vừa học vừa làm, là hình thức giáo dục chính thống, phù hợp với Luật Giáo dục Việt Nam. Các hành động bài trừ hệ này, hay lơ đãng coi thường không chú trọng chất lượng, hoặc chú trọng một cách hình thức cũng coi như phạm luật.

Tuy nhiên, nếu xét từ vị trí của người tuyển dụng thì cũng không có gì mâu thuẫn, nhất là khi tình hình chất lượng giáo dục nói chung, hệ đào tạo tại chức nói riêng cũng như các hệ phi chính qui khác, có nhiều bất cập. Chất lượng của một chương trình đào tạo có được từ nhiều phía, nếu chỉ coi đó là trách nhiệm của giảng viên thì chưa đủ. Nâng cao chất lượng đào tạo là việc làm cần có sự phối hợp của nhiều phía mà quan trọng nhất là sự chỉ đạo đúng đắn của nhà trường. Cá nhân tôi chưa cảm nhận được những đường hướng tích cực cho hệ này từ nhà trường.

Nhà trường cần có quan điểm đúng đắn về loại hình này. Nếu không coi nó là một bộ phận cần tập trung ưu tiên đào tạo thì nên xóa bỏ hoàn toàn. Nếu xác định còn tồn tại thì cần có chính sách hợp lí, đảm bảo quyền lợi cho người học và người dạy, thông qua đó thể hiện tinh thần trách nhiệm với xã hội về sản phẩm do mình đào tạo.

Tagged: , ,

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: