Lại nói tiếp về tại chức

Nhiều loạt bài liên tục về tại chức, nhưng có vẻ chưa có bài nào nói rõ xem cụ thể đối tượng tại chức là những ai và mỗi người phát biểu dựa theo cảm tính của mình, nên cứ như thầy bói xem voi.

1. Đối tượng tại chức:

1.1. Đối tượng có một bằng đại học chính qui, học thêm một bằng đại học tại chức.

1.1.1. Có một bằng đại học chính qui, học thêm một bằng tại chức, gần chuyên ngành.

Đối tượng này khá phổ biến với các giáo viên ngoại ngữ, ví dụ, tiếng Nga, tiếng Trung, tiếng Anh, tiếng Pháp v.v. chuyến nghề, sang dạy các thứ tiếng khác do nhu cầu xã hội, ví dụ: tiếng Nga chuyến sang dạy tiếng Anh, tiếng Việt; hay tiếng Anh chuyến sang dạy tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Hàn, tiếng Pháp v.v.

Với những đối tượng này, khỏi phải bàn về chất lượng vì dù sao, họ cũng đã có một chuyên ngành ngôn ngữ học được đào tạo bài bản (đương nhiên, chỉ tính những người được đào tạo bài bản).

Do điều kiện nghề nghiệp, đào tạo thường xuyên và tự học, nhiều người có khả năng vượt trội. Hơn nữa, ngành ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh, có chuẩn đánh giá quốc tế, do đó, tại chức hay chính qui không có ảnh hưởng gì đáng kể. Miễn sao người học thỏa mãn yêu cầu về năng lực ngôn ngữ.

Hơn nữa, giáo viên ngoại ngữ, nếu có biết hơn một ngoại ngữ, tốt hơn nhiều so với những giáo viên chỉ biết một ngoại ngữ. Một số người hay nói giáo viên tiếng Nga chuyến sang dạy tiếng Anh là kém. Sai lầm và chủ quan, hồ đồ, dễ gây mất hòa khí.

Như vậy, về cơ bản, so sánh tại chức hay chính qui ngoại ngữ tỏ ra vô hiệu hóa ở đây. Người tuyển dụng cũng đừng quan tâm tới hệ này hệ kia làm gì cho mệt, cứ nói họ trình qui chuẩn đánh giá năng lực ngoại ngữ  quốc tế là xong (IELTS, TOEFFL, TOEIC v.v.), hết bàn cãi.

Ngoài lề: chương trình thạc sĩ ngoại ngữ nhà mình, bộ không cho phép hệ tại chức học. Tuy nhiên, đối tượng này lại được chào đón bởi các chương trình liên kết, miễn có tiền. Tuy nhiên, các trường, ví dụ La Trobe (liên kết với đại học quốc gia HN), yêu cầu người học trình điểm IELTS 6.5. Nếu không có chứng chỉ này, không cấp bằng thạc sĩ (TESOL – phương pháp giảng dạy).

Sở dĩ có chuyện này bởi vì, chương trình thạc sĩ thì khó đánh giá chuẩn kiến thức, nhưng năng lực tiếng Anh 6.5 IELTS đủ năng lực để có thể giảng dạy được tiếng Anh tốt.

Nước ngoài họ làm được những cái tưởng bình thường nhưng các nhà quản lí giáo dục Việt thì lại cứng nhắc. Đơn giản họ phân biệt được bản chất của vấnđề, cái gì cần ưu tiên hơn cái gì.

1.1.2. Có một bằng đại học chính qui, học thêm một bằng tại chức, khác hẳn chuyên ngành. Đối tượng này tương đối nhiều, chỉ tính riêng các chuyên ngành ngoại ngữ có nhu cầu học thêm một chuyên ngành thứ hai thì rõ. Hầu như tất cả các sinh viên chuyên ngữ đều có nhu cầu học thêm một chuyên ngành thứ hai. Đối tượng này về cơ bản, có lợi thế ngoại ngữ hơn hẳn so với các đối tượng cùng lứa chỉ học chuyên ngành. Hầu hết họ cũng không gặp trở ngại khi xin việc với nước ngoài bởi khả năng ngoại ngữ vượt trội. Hơn nữa, các chương trình chuyên ngành của Việt lại hầu như lạc hậu, không đáp ứng được các yêu cầu khắt khe của người tuyển dụng. Bởi thế, các sinh viên chuyên ngữ khi có chuyên ngành khác thường có xu hướng kiếm được việc làm tốt hơn vì đăng nào các công ti nước ngoài cũng không chấp nhận nhân viên mới làm việc mà không qua đào tạo lại. Với đối tượng này, có ngoại ngữ là lợi thế lớn hơn hẳn.

Ví dụ của đối tượng này rơi vào hầu hết các đối tượng học đại học chuyên ngữ, cần thiết phải học thêm chuyên ngành thứ hai như kế toán, tài chính, ngân hàng v.v. để đổi nghề. Hoặc các ngành ít kiếm được việc hơn nên chuyển sang học chuyên ngành thứ hai, cũng với hi vọng đổi nghề.

Tại sao đối tượng này phải đi đường vòng? Đơn giản, họ thường chưa đủ tự tin để thi vào ngành mà họ muốn chọn. Về cơ bản, so với các sinh viên chính qui các ngành cùng loại, chuyên ngành 1, họ có vẻ đứng dưới hơn, chính bởi xuất phát điểm của mình.

Đối tượng này về cơ bản tư chất và khả  năng cá nhân chắc cũng không có vấn đề. Ít nhất, họ đã được sàng lọc qua kì thi đại học khắt khe. Thi khối D vào các trường chuyên ngữ cũng tương đối khó. Trừ khi có các đối tượng thì vào các ngành ít người muốn học như chính trị, v.v. muốn chuyển sang học ngoại ngữ hay những thứ tương tự

Tuy nhiên, chất lượng học ngành thứ hai tùy thuộc vào các yếu tố khách quan, ví dụ, chương trình, giáo tình, qui trình kiểm tra đánh giá, và sự nghiêm túc của người thầy nhiều hơn.

Nếu chương trình này được dạy theo qui chuẩn chuyên môn thấp hơn so với chính qui, thường là như vậy, như thừa nhận của một số giáo viên các trường, thì đương nhiên, nhà tuyển dụng có quyền nghi ngờ về chất lượng chung, mặt bằng chung.

Tuy nhiên như đã nói ở trên, các chuyên ngành được đào tạo bằng tiếng Việt nếu có khả năng ngoại ngữ tốt thì cơ hội kiếm việc làm vẫn tốt hơn các sinh viên dù đào tạo chính qui ở một trường không chuyên ngữ.

1.2. Đối tượng chỉ học tại chức hoặc từ xa hoặc phi chính qui.

1.2.1. Đối tượng có khả  năng học nhưng vì hoàn cảnh khách quan, không thể theo học được đại học chính qui, buộc phải học tại chức.

Ví dụ cho đối tượng này thường là do lịch sử để lại, ví dụ đõ đại học nhưng vì chiến tranh hay nhiệm vụ đặc biệt nên lùi thời gian học, hoặc lỡ cơ hội, buộc phải học tại chức để bổ sung trình độ. Đối tượng này ít lắm, không đáng kể.

Đối tượng khác là do nhà nghèo, phải đi làm. Đối tượng này hiện nay cũng hạn chế. Rất ít gia đình Việt Nam có con học giỏi mà để thất học. Cha mẹ thậm chí chấp nhận bán nhà cửa, đi làm thuê làm mướn để nuôi con học đại học chứ nhất định không chịu để con thất học.

Đối tượng này học tại chức thì cũng sẽ học giỏi, hoặc ít nhất là không dốt. Họ cũng không có tiền để mua điểm hay thuê người đi học. Đối tượng này cũng không thuộc loại dễ bị chỉ trích về chất lượng.-

1.2.2. Đối tượng không có khả năng học, vì lí do chủ quan, không đủ điều kiện (khả năng) học chính qui, buộc phải học tại chức, hoặc phi chính qui, học liên thông, học liên kết đào tạo

Đối tượng này nhiều vô kể. Họ đã đi làm và trải nghiệm nhiều. Họ cũng rất lanh lợi trong cuộc sống. Nhận thức rõ mình kém cỏi nên họ được bù trừ một cá tinh khác là luyện cho mình đức tĩnh nhũn nhặn, họ biết mình thế nào nên ít tỏ ra kiêu ngạo, lại kiên nhẫn và chu đáo với những người khác – nhất là những người có quyền lực (do qui luật bù trừ) nên thường có nhiều thiện cảm với những người khác, nhất là với cấp trên. Họ dễ sai bảo và tận tụy phục vụ người khác v.v. Tóm lại, có nhiều đức tính cá nhân mà lãnh đạo hiện nay cần và họ dễ dàng được trọng dụng hơn. Đó cũng là điều kiện để họ thăng tiến, dễ thăng tiến trong cơ chế hiện hành.

Có hiện tượng này phổ biến cũng bởi các công việc hiện nay tại nhiều cơ quan nhà nước, các dạng công việc không cần phải tỏ ra đặc biệt xuất sắc về chuyên môn mới hoàn thành được nhiệm vụ. Các cơ sở quốc doanh làm việc theo tinh thần đều đều, không có cạnh tranh, không cần các sáng kiến nổi bật. Ví dụ, một người tốt nghiệp hệ phi chính qui, một trường dân lập, khi làm ở ngân hàng, một vị trí nhân viên hay kiểm soát viên thì không đòi hỏi tư chất khác biệt. Do đó, một người, có mối quan hệ tốt, tính tình cẩn thận, thật thà, tận tụy thì dễ được trọng dụng hơn một người nhanh nhẹn, học giỏi, nhưng lại ít quan tâm,chú ý hơn tới người khác. Cơ hội thăng tiến vì thế cũng rõ sẽ thuộc về cá nhận nào.

Nếu chúng ta có môi trường làm việc sàng lọc tốt, cần trí tuệ cao và đảm đương các vai trò đặc biệt như kiểu các công ti hàng đầu của thế giới, thì chuyện khả năng hay tư  chất trí tuệ sẽ có trọng lượng hơn.

Xã hôi mình hiện nay đang cần các vị trí nhàng nhàng, người nhàng nhàng. Do đó, tự mỗi người hiểu sao có nghịch lí tại chức hay phi chính qui vẫn thăng tiến như thường. Mọi cái đều có nguyên do của nó. Bởi thế, chính qui cũng đừng nên ghen tị với tại chức thăng tiến làm gì cho mệt.

Tuy nhiên cái đáng nói là các đối tượng này, lợi dụng phương thức bổ nhiệm còn nhiều bất cập của Việt Nam hiện nay, leo lên nắm giữ các vị trí quan trọng và họ không có khả năng ra quyết định đúng, không có khả năng đánh giá vẫn đề, hay dẫn dắt một đội ngũ tốt. Đối tượng này sẽ làm cản trở sự tiến bộ của xã hội nhiều lắm.

2. Có thể đánh giá được trình độ của các hệ không? Cảm tính và chủ quan nếu không có một bộ kiểm địn chất lượng, hay tiêu chí đánh giá. Nếu không có hệ qui chuẩn chung thì mãi mãi không có câu trả lời thỏa đáng, và cứ tranh luận triền miên.

Với ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh rất dễ, bởi có qui chuẩn quốc tế. Chính qui hay phi chính qui chẳng nói lên cái gì nếu cả hai đều được đánh giá chung theo một qui chuẩn.

Với các ngành khác, chừng nào chưa có được quy chuẩn đánh giá chất lượng thì mãi mãi không bao giờ hết tranh cãi tại chức hay chính qui cái nào hơn cái nào, hay ai hơn ai. Cái này hình như đã nói trong một entry trên này rồi.

Tagged: , , , , ,

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: