Tư chất lao động Việt

Nhân tài Việt Nam mạnh gì yếu gì? là tên của bài báo hôm nay vừa đọc.

Thực ra nên hỏi Người Việt mạnh gì yếu gì có lẽ khái quá hóa tốt hơn.

Không trung thành với công ty

Yếu ngôn ngữ nhất là tiếng Anh, Pháp, Đức v.v.

Thiếu kĩ năng giao tiếp

Thiếu nhạy bén khi ứng dụng kiến thức vào thực tế có thể mang lại nhiều lợi nhuận, nói nôm na là kiếm nhiều tiền

Nặng về kiến thức hàn lâm.

“Đó là ý kiến ông Albert Ellis, từ công ty Harvey Nash có hơn 10 năm hoạt động tại Việt Nam trong ngành viết và gia công phần mềm công nghệ thông tin”.

Khá là chính xác. Nhưng có lí do.

Rất nhiều thanh niên thích nhảy việc. Một mặt họ nói đó là muốn tìm cơ hội mới, nhưng chủ yếu cơ hội ở đây là “tiền”, nhiều người sẵn lòng bỏ nơi cũ ra đi, miễn sao có được nơi làm tốt hơn về lương. Nhưng điều này lại chỉ đúng với các công ti có tính cạnh tranh cao. Với các công ti nhà nước, người ta vẫn có xu hướng “trụ” lâu hơn. Họ thích một công việc nhiều tiền, nhưng nhàn rỗi, không chịu áp lực. Nếu có người chống lưng thì càng tốt.

Yếu ngộn ngữ thì đúng quá rồi. Họ không chỉ yếu ngôn ngữ tiếng nước ngoài, mà họ còn yếu cả tiếng Việt. Các môn Việt ngữ học không được dạy theo hướng thực hành, ứng dụng ngôn ngữ, ngữ dụng học, ngữ pháp chức năng mà nặng tính hàn lâm của ngữ pháp truyền thống. Các nhà ngôn ngữ học có tên tuổi, có quyền ra quyết định lại yếu về ngoại ngữ thực hành. Hậu quả các thế hệ học sinh cứ được rèn luyện theo cái tư duy cũ kĩ. Người học hầu như không được dạy các lối giao tiếp hợp lí, hành văn chuẩn mực, đúng ngữ cảnh. Người Việt nói chung có thể biết xã giao ngoài đường, thân thiện với người lạ, nhưng sẵn sàng cáu bẳn, nặng nhẹ với người thân trong gia đình. Khi vào công ti hoặc một cơ quan  nào đó, họ hay bị lẫn lộn quan hệ thân tộc, thân thuộc và quan hệ xã giao, quan hệ công việc.

Người Việt kém ngoại ngữ, chủ yếu do cách dạy không đúng vì các chương trình học quá chú trọng kĩ năng thi cử nhưng lại là thi cử chưa chuẩn mực, hoặc ít nhất các kì thi đang được thực hiện chưa có chuẩn đánh giá đủ tin cậy, những thứ vốn không hướng tới những điểm mấu chốt của việc học ngoại ngữ.  Cụ thể hơn, các chương trình đều không hướng chuẩn đánh giá thế giới, hoặc nếu có thì đều bóp méo cho lệch lạc. Nhiều người có quyền ra quyết định về chương trình ngoại ngữ quốc gia nhưng bản thân họ từ lâu đã tách bạch với quá trình dạy học, xa rời thực tế. Kết quả là họ áp những chuẩn cũ kĩ vào thời hiện đại. Các chương trình ngoại ngữ bao giờ cũng chậm hơn yêu cầu của xã hội nhiều lần và cách quản lí giáo viên lại cứng nhắc, nặng tính hành chính. Ngay ở đại học, một giáo trình dạy cho sinh viên cũng phải được sự chỉ đạo của Ban Giám Hiệu hoặc chi bộ đảng. Rất ít nơi khuyến khích sự tư do sáng tạo của giáo viên. Thay vào đó, lại thích áp chuẩn vào những cái chưa hẳn là chuẩn. Kết quả là người học cứ học mãi mãi mà vẫn không bao giờ có thể dùng được ngoại ngữ.

Người Việt thiếu các ngoại ngữ khác phần lớn cũng là do tính thiển cận, không biết nhìn xa trông rộng và học theo phong trào, tư tưởng đám đông kiểu “thấy hàng xóm ăn khoai thì vác mai đi đào”. Chỉ một số ít có khả năng tự dự báo cho mình về loại ngoại ngữ mà xã hội cần. Do vậy, các gia đình chủ yếu đầu tư cho con học thêm các môn khoa học cơ bản mà ít đầu tư chiều sâu vào ngoại ngữ, trong khi đó lẽ ra phải làm ngược lại. Nhưng hậu quả này cũng cần phải hiểu rõ là từ chính sách ngoại ngữ, bóp chặt hoặc bóp ngạt các ngoại ngữ khác. Kể cả những người mặn mà với các thứ tiếng khác cũng ít có chỗ dung thân, cả người học và người dạy.

Đại đa số phụ huynh đầu tư ngoại ngữ cho con vào các chương trình luyện thi đại học tiếng Anh, trong khi đó, bản chất kì thi này không giúp ích gì nhiều cho việc hoàn thiện năng lực ngôn ngữ của họ.

Rất nhiều sinh viên các trường không chuyên ngữ bỏ 4 năm để tham gia vào học ngoại ngữ tại chức mà không hề hiểu rằng chương trình này hoàn toàn chẳng phù hợp với đích họ kì vọng.

Họ thiếu kĩ năng mềm vì hầu hết các kĩ năng này bị giáo viên bỏ qua bởi mục tiêu trong giáo dục các cấp của Việt Nam xem trọng kiến thức hàn lâm. Trong khi đó, các kĩ năng mềm cần phải được dạy đan xen vào suốt quá trình học chính thống, xuyên suốt từ phổ thông lên cao học. Rất ít giáo viên có khả năng kết hợp các kĩ năng mềm vào chương trình dạy học của mình, bởi vì ngay những kĩ năng đó đều không có trong chương trình được quản lí. Giáo viên chạy lệch khỏi nội dung chuyên môn sẽ dễ có khả năng bị hội đồng đánh giá không đạt chuẩn (cái này có vẻ rõ hơn ở bậc  phổ thông)

Thực ra nếu nói nhân tài Việt nặng tính hàn lâm cũng không đúng. Trên thực tế, các môn học thường được giảng dạy độc lập, không liên hệ với nhau. Nhiều kiến thức không cập nhật. Nhiều giáo viên không chịu đào sâu kiến thức, cập nhật kiến thức mà chỉ chăm chăm dạy hết chương trình trong giáo trình. Rất không có gì đặc biệt nếu thấy nhiều môn ở đại học, sinh viên chỉ học theo một giáo trình của giảng viên mà chủ động tham khảo thêm các tài liệu khác. Các chương trình cao học cũng vậy, thường chỉ được học từ một cuốn sách và rất ít khi có tài liệu tham khảo bằng ngoại ngữ.  Trường Bách Khoa Hà Nội, một trường top của Việt Nam, sinh viên vẫn học kĩ thuật “chay”, không phòng lab, không workhops thực tập, với các giáo trình “mọc râu” từ thời Liên Xô để lại.

Rất dễ hiểu nếu họ không có khả năng ứng dụng kiến thức đã học để có thể kiếm tiền. Đơn giản, bản thân giáo viên dạy họ còn không có khả năng ứng dụng kiến thức để kiếm tiền thì làm sao sinh viên của họ có khả năng làm việc đó được.

Nhưng hơn tất cả, xã hội Việt đang được vận hành theo kiểu không cần người biết làm việc mà chỉ cần người biết chiều lòng người. Một kĩ sư giỏi có khả năng làm ra một sản phẩm bán cho xã hội thì các cơ quan nhà nước vẫn sẵn lòng bỏ tiền mua của nước ngoài hơn nếu có cơ hội kiếm hoa hồng nhiều hơn thay cho việc chấp nhận mua sản  phẩm của kĩ sư đó nếu ông ta tỏ ra cứng nhắc trong chuyện thanh toán. Cứng nhắc ở đây phải được hiểu là không chấp nhận lối làm việc “mềm” kiểu làm việc gian dối.

Tagged: ,

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: