Sinh viên ngoại ngữ dốt ngoại ngữ

Bài này cóp ở một số mục trên các báo khác về đề các bạn tham khảo thêm về các ý kiến cá nhân trong bài “không nên học ngôn ngữ Anh …”

Những thông tin này đã đăng từ lâu, Hiệu trưởng Đại học Hà Nội đã rời vị trí được chừng 3-4 năm rồi nhưng những gì thầy dự báo vẫn chưa thành hiện thực và tình hình có vẻ chưa có gì sáng sủa hơn. Giáo viên bản ngữ tiếng Anh như những vật thể lạ hiếm hoi lắm ở trường. Nếu có những gương mặt nước ngoài da trắng có chăng là sang học tiếng Việt theo dạng lấy visa du lịch. Giảng đường ngoại ngữ thì thô sơ vô cùng, chỉ có bàn ghế và bảng với một cái máy cassette cũ kĩ, băng tiếng nhiều khi ngay người bản ngữ cũng phải bó tay vì độ rè. Rất ít giáo viên tiếng ứng dụng công nghệ trong giảng dạy, nếu có thì cũng chật vật với phòng ốc và nhiêu khê đủ thủ tục giấy tờ (mặc dù phải công nhận là nếu học ở thư viện của trường thì cũng được đội ngũ kĩ thuật viên nhiệt tình giúp đỡ trong chuyện máy móc. Nhưng cả thư viện cũng chỉ có hai phòng có máy chiếu, một phòng to lớn thênh thang và phòng kia bé tí xíu chủ yếu dành cho sinh viên tự học). Nếu cả mấy chục mấy trăm lớp giáo viên đều có yêu cầu dùng máy thì chăc chắn là không tưởng. Bởi vậy, ý tưởng yêu cầu giáo viên sáng tạo hay ứng dụng công nghệ vào giảng dạy vẫn chỉ là giấc mơ xa vời như tuổi thơ mãi mãi trôi dần xa…

============

Sinh viên các trường ngoại ngữ thường có niềm đam mê học ngoại ngữ từ cấp 2, cấp 3, có vốn liếng ngoại ngữ kha khá và thi đầu vào bằng ngoại ngữ. Thế nhưng một thực tế, không ít sinh viên các trường ngoại ngữ lại dốt… ngoại ngữ.

Giao tiếp kém

Qua nhiều khảo sát tại các trường ngoại ngữ, hiện tượng nhiều sinh viên học ngoại ngữ theo lối thụ động, không sáng tạo và học đối phó chỉ để qua các kỳ thi xảy ra khá phổ biến. Nhiều sinh viên tự nhận mình cảm thấy lúng túng và không tự tin khi giao tiếp với người nước ngoài.

Thu Phương, sinh viên K37 Pháp, ĐH Ngoại ngữ – ĐH Quốc gia Hà Nội, cho hay, ở trường Phương được học ngoại ngữ chính là tiếng Pháp, ngoại ngữ hai là tiếng Anh.

“Về chuyên ngành ngoại ngữ tiếng Pháp, bọn mình phải học nhiều môn. Ngộp trong kiến thức sách vở, mình không còn nhiều thời gian để tự học. Với lại, thấy các anh chị khoá trước ra trường hầu như làm trái ngành, không sử dụng đến tiếng Pháp, mình cũng ngại đầu tư. Mang tiếng học ngoại ngữ hai là tiếng Anh, nhưng hầu như bọn mình thay phiên nhau bỏ học. Chương trình Headway không làm bọn mình hứng thú”, Phương thú nhận.

Kể cả sinh viên khoa Anh cũng ngại giao tiếp bằng tiếp Anh. “Dẫu học trong môi trường đại học ngoại ngữ, nhưng bọn mình ít được tiếp xúc với người bản xứ”, Minh Trang, ĐH Hà Nội tâm sự.

Thầy Nguyễn Quốc Hùng, MA (giảng viên ĐH Hà Nội, gương mặt dạy tiếng Anh quen thuộc trên truyền hình), cho hay, nhiều sinh viên nghe nói kém, phát âm không chuẩn do không có môi trường tiếp xúc với người nước ngoài.

“Hiện nay, sinh viên có thể tự trau dồi tiếng Anh qua mạng Internet, qua băng đĩa… nhưng không phải em nào cũng có thói quen này. Đa số sinh viên tốt nghiệp đều sợ giao tiếp bằng tiếng Anh”, thầy Hùng nhận định.

Giờ học ngoại ngữ của sinh viên Trường đại học Quốc tế (Đại học Quốc gia TP.HCM). Ảnh: Tuổi Trẻ

Còn theo TS Võ Đại Quang, Phó trưởng phòng Phòng Nghiên cứu Khoa học & Bồi dưỡng, ĐH Ngoại ngữ – ĐH Quốc Gia Hà Nội, nhược điểm đầu tiên của sinh viên học ngoại ngữ ở Việt Nam là bị mất gốc, sinh viên chưa được tiếp cận phương pháp học tập đúng đắn. Các em học ôm đồm, bị mất cơ bản, mất gốc từ đầu nhưng thấy giáo trình nào cũng lao vào học, chẳng đâu vào đâu.

“Yếu tố quan trọng nhất trong dạy ngoại ngữ là dạy cách phát âm chuẩn. Nhưng đa số sinh viên phát âm sai, sau đó các em bị mất gốc, sửa mãi không được. Từ đó, sinh viên cảm thấy không tự tin khi sử dụng ngoại ngữ như một phương tiện giao tiếp”, TS Quang đánh giá.

Thi cao học cũng học tủ, thủ phao

Thông thường, học ở trong các trường ngoại ngữ, giảng viên thường hướng sinh viên học mở, tự nghiên cứu. Nhưng cũng không hiếm sinh viên chỉ chăm chăm học đối phó, thụ động.

Tiếp xúc với một số sinh viên, không ít bạn thật thà: “Thi môn ngoại ngữ nào, bọn mình cũng có phao, kể cả thi nghe, vấn đáp”.

Hoá ra, trước mỗi kỳ thi, đa số các môn đều có giới hạn. Sinh viên chỉ cần làm tài liệu, học tủ, và có thể thủ phao vào phòng thi.

“Ví dụ môn Nói, bọn mình có tới 10-15 chủ đề cho sẵn, có thể học tủ, hoặc cũng có thể thủ phao đâu đó. Sau khi bốc đề, bọn mình vẫn còn 5-10 phút chuẩn bị, viết những ý chính ra giấy. Lúc đó, giảng viên đang “quay” vấn đáp thí sinh khác, hơi đâu còn để ý đến mình nữa”, một sinh viên ngoại ngữ tiết lộ.

Cao thủ hơn, các thí sinh tham gia kỳ thi tuyển sinh đầu vào cao học ngoại ngữ cũng học tủ, thủ phao các môn ngoại ngữ.

Theo lời kể của một thí sinh tham gia kỳ thi tuyển sinh sau đại học, ĐH Ngoại ngữ – ĐH Quốc gia Hà Nội cách đây hai năm, thí sinh này may mắn vì trúng tủ kỹ năng nghe và đọc hiểu.

“Từ kỳ thi tuyển sinh sau đại học năm 2005 trở về trước, đề thi cao học tiếng Anh đều thi theo dạng bài IELTS. Thế là tất cả các kỹ năng nghe – nói – đọc – viết, bọn mình đều “luyện tủ”. Học hỏi kinh nghiệm của thí sinh các khoá trước, những tài liệu IELTS nào thường được chọn ra đề thi, bọn mình đều luyện qua, tuy đôi lúc chỉ học, nhớ theo cảm tính chứ không hiểu rõ vì sao nó đúng, vì sao phải dùng đáp án đó.

Sinh viên này còn tâm sự: “Thực trạng sinh viên ngoại ngữ kém… ngoại ngữ không chỉ ở cấp đại học. Bọn mình học cao học cũng chỉ giỏi viết thôi, chứ giao tiếp vẫn còn kém lắm. Suốt ngày chỉ làm tiểu luận, đợt này mình phải làm tới 8 tiểu luận, mỗi tiểu luận viết khoảng 15 trang, đều bằng tiếng Anh. Nào là Tiếp thụ ngôn ngữ 2, Tiếng Anh chuyên ngành ESP, Ngữ pháp chức năng, Tương tác ngôn ngữ & văn hoá, Ngữ âm, Nhân bản luận trong dạy học ngoại ngữ… Lo cho 8 tiểu luận với khoảng 120 trang khiến mình cũng quá mệt, chẳng còn thời gian đâu để học kiểu sáng tạo, luyện kỹ năng nghe nói”…

Nhiều giảng viên yếu kém

Bên cạnh đó, chất lượng đội ngũ giảng viên cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học ngoại ngữ của sinh viên.

Trên diễn đàn ĐH Hà Nội , một cựu sinh viên đưa ra sáng kiến, nhà trường và sinh viên cùng tổ chức đánh giá chất lượng giảng viên rộng rãi trên diễn đàn nhằm nâng cao chất lượng dạy và học của trường.

GS Nguyễn Xuân Vang, Hiệu trưởng ĐH Hà Nội, cũng thừa nhận, một số giảng viên đã không thực sự vươn lên và học tập để dạy tốt.

“Một vấn đề nữa là khi có kết quả đánh giá đối với giảng viên rồi thì sẽ làm gì? Với cơ chế hiện nay, rất khó đuổi việc các giảng viên đó vì còn nhiều quy chế ràng buộc, còn rất nhạy cảm. Một vấn đề khó nữa là làm thế nào để thu hút giảng viên giỏi trong khi nhà trường không đảm bảo cuộc sống của họ trong nền kinh tế thị trường này?

Hàng năm, ĐH Hà Nội tuyển 1.300 sinh viên, trong đó có hơn 200 chỉ tiêu được nhà nước cấp ngân sách. Học phí bị khống chế, không thu cao hơn được nên lương giáo viên tương đối thấp.

Thầy Vang chia sẻ: “Tôi hy vọng nhà trường có chính sách tài chính và chế độ tốt để sàng lọc giảng viên. Tháng 9/2006, trường thực hiện đào tạo theo tín chỉ một số môn học chung. Vài năm tới, sinh viên có quyền đăng ký học giảng viên nào dạy chất lượng. Như vậy, đương nhiên giảng viên nào không có sinh viên đăng ký thì theo quy trình tự nhiên sẽ bị đào thải”.

Theo thầy Vang, đuổi việc những giảng viên chưa đạt yêu cầu chỉ là hạ sách. ĐH Hà Nội hiện đang tạo điều kiện cho giảng viên nâng cao trình độ, mời chuyên gia nước ngoài đến kèm, giúp đỡ, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên.

Phương Nguyên

Tagged: , , , , , , ,

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: