322 kết thúc bất ngờ do vượt chỉ tiêu

322 ngừng đột ngột (theo kế hoạch 2014) do vượt chỉ tiêu và nhà nước đã hết ngân sách dành cho  khoản này.

Vụ này vừa mừng vừa vui.

Mừng vì một đề án sẽ chẳng có hồi kết tốt đẹp kết thúc. Đợt du sinh lần thứ hai này nó có khác gì với du sinh lần 1 vào các nước Nga và Đông Âu đâu. Chỉ khác một điều, trước đây tiền là do ngân sách của các nước kia cung cấp (cũng chẳng phải cho không, bởi vì hiện nay một loạt các dự án xử lí nợ đang tiến hành) và hiện nay là tiền thuế của dân đóng vào, cung cấp cho số học sinh đi du học, với danh nghĩa là cán bộ học sinh sinh viên xuất sắc từ các cơ sở ngành của nhà nước.

Đề án xử lí nợ và hiệp định chủ yếu liên quan tới Nga. Trước đây Nga viện trợ cho Việt Nam theo tinh thần “không hoàn lại”, nay ta phải trả lại nợ cho họ và số nợ này không phải trả bằng tiền, mà bằng giáo dục, có nghĩa là nhà nước Việt Nam có trách nhiệm cử học sinh sang Nga học và họ trừ nợ theo đầu học sinh. Phía bên Nga chịu trách nhiệm thanh toán học phí (một hình thức cấp ngân sách giáo dục cho các trường của Nga – vốn càng ngày càng thiếu học sinh), và nhà nước Việt Nam cung cấp tiền sinh hoạt phí bao gồm cả ăn, ở, máy bay, bảo hiểm các loại v.v.).

Không ai cho không ai cái gì vẫn luôn là chân lí đúng ở mọi thời đại.

Các du sinh về nước thiếu môi trường làm việc chuyên nghiệp, hoặc ít được tạo điều kiện làm việc, như nó luôn như vậy, không phải là gì xa lạ. Một môi trường làm việc không phải là định dạng một cách rõ ràng kiểu giấy trắng mực đen, nhưng về cơ bản vẫn không dựa vào khả năng hay thực lực lao động, mà chủ yếu dựa vào quan hệ mềm, dựa vào cảm tính của đông đảo mọi người, nhất là tầng lớp quản lí, bởi vì chưa và chưa bao giờ có một cách đánh giá khách quan về lực lượng lao động, có nghĩa là việc đánh giá hoàn toàn dựa vào cảm quan của từng người, nhưng lại theo tâm lý bầy đàn “có tổ chức” kiểu bộ tam bộ tứ (đảng, đoàn, công đoàn, chính quyền) vốn lúc nào cũng đan xen quấn quýt chằng chịt xung quanh một cái cội, và kiểu “bắt phong trần phải phong trần, cho thanh tao mới nên phần thanh tao”, khiến cho không ít người nản lòng và buông xuôi…

Môi trường làm việc không sáng sủa cũng một phần lớn là do lề lối quản lí và bổ nhiệm cán bộ thiếu công bằng, dựa trên những chính sách có vẻ như rõ ràng nhưng lại cực kì mơ hồ và khép kín (bổ nhiệm theo quy hoạch nhưng lại chẳng bao giờ công khai với đa số người lao động).

Những cán bộ đi học về, dù có học được cái mới, cái tiến bộ, nhưng cũng khó có thể làm thay đổi được tình hình ở tầm vĩ mô bởi họ hầu hết không được giữ các vị trí có quyền ra quyết định. Mà đội ngũ ra quyết định thì được bổ nhiệm hầu hết không theo một nguyên tắc chuyên môn mà dựa quá nhiều vào nguyên tắc mềm khác (đã từng lãnh đạo bao nhiêu  năm – mà cái thâm niên này lại do lịch sử). Chẳng hạn, có những lãnh đạo chủ chốt của một số khoa chủ chốt nhưng lại không có bề dày nghiên cứu khoa học, chẳng có thành tích gì trong nghiên cứu hay chuyên môn, mà đơn giản là theo kiểu sống lâu lên lão làng trong làng quản lí, đại loại tôi làm trưởng khoa vì tôi đã từng làm phó – cho dù cái vị trí “phó” kia cũng lại do hợp nhãn một số “trưởng” mà được bổ nhiệm, hoặc có mác là đảng viên, chứ hoàn toàn không dựa vào thực lực chuyên môn của một người nào đó…)… Rồi những kiểu bỏ phiếu tín nhiệm vô bổ hàng năm trong số các cán bộ chủ chốt. Người làm cán bộ hiểu rằng ai là người quan trọng với họ trong việc nhận xét, vì thế, họ cũng chẳng cần phải đếm xỉa tới đa số người lao động, mà thay vào đó, “quan hệ” tốt với những người trong guồng máy “nhận xét, đánh giá” họ, coi như xong rồi.

Như vậy, đội ngũ đi học về thực chất vẫn là thợ (mà đã là thợ thì dù có ứng dụng cái mới cũng chỉ được ở phạm vi đơn lẻ trong các lớp của riêng mình), học về một hai năm có cái mới thật đấy, nhưng vài năm sau với môi trường làm việc chẳng mấy tích cực như vậy, họ nhiễm dần lối làm việc cũ (ai dại gì mà làm khác người cho nó mệt thân, hoặc kiểu “chim sinh ra trong lồng thấy chim biết bay là dị dạng”), trì trệ và cũng lại chủ yếu dựa trên “quan hệ mềm” kia. Thế là xong một tính cách, một lối làm việc.

Có một cái ít người để ý, tại sao đề án kết thúc 2014 mà 2012 đã vượt chỉ tiêu?

Tổng tiền là có hạn. Dành cho người này thì người kia không còn nữa.

Trong số mấy nghìn  người hưởng chính sách này có bao nhiêu người không xứng đáng được nhận và không đúng đối tượng được nhận?

Có những du sinh tự túc (do trượt đại học trong nước), nhưng kết thúc bậc đại học lại đương nhiên được hưởng tiền tư nguồn dự án này. Họ giỏi thực sự, hay là do có quan hệ dây mơ dễ má với guồng máy mà được hưởng? Liệu có ai được biết số lượng chính xác không? Nên chăng cần các đối tượng đã được hưởng nguồn tài chính này kê khai rõ ràng quá trình nhận học bổng của họ. Minh bạch ở chỗ đó. Buồn cũng ở chỗ đó.

Những sinh viên đã đầu tư thời gian, tiền của, công lực vào học bổng này, bỗng dưng dừng đi học, hoặc phải chuyển đích du học, từ các nước nói tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Pháp v.v. sang các dự án kiểu xử lí nợ để chuyển tới học ở Nga hay Maroc hay Cu Ba v.v. dù chưa phải là kết cục buồn nhưng cũng không thể nào có thể ca hát được.

Cuộc vui nào cũng tới lúc tàn. Nhưng bữa tiệc này sao  nó thê lương tới thế!

Tagged:

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: