Loại từ tiếng Việt _ Vietnamese classifiers và cách nói khái quát hóa (generalisation)

Tiếng Việt không dùng quán từ như tiếng Anh, thay vào đó là loại từ (classifiers: con, cái, chiếc, tờ, cây, quyển, tập, bó, nắm, bím, v.v.)

(There are no articles in Vietnamese. Instead, classifiers are used. Most commons seem to be “con, cai chiec” and like gender concept in some European languages, the classifiers are quite arbitrary. We will never know why this or the other classifier is used in various situations. No reasonable explanation. They should be accepted to use as often seen by … memorizing. “con” is usually referred to an animated object (e.g. con cua – a crab, con cá (fish), con trâu (a buffalo) while “cai” or “chiec” to an unanimated one. However, it is not always the case. e.g con xe (a car), con chíp (a chip), con tàu (a ship) or cái Lan ( a girl called Lan), cái ông kia/đó, nớ (a -that- man).

Trong đa số trường hợp, CÁI được kết hơp với hầu hết các loại từ kia. Do đó, có thể nói, từ CÁI là loại từ phổ biến nhất trong tiếng Việt và nó có khả năng dùng tổng hợp nhất. Ví dụ

Cái +chiếc + N + kia = cái bàn kia, cái chiếc bàn kia, chiếc bàn kia (but never chiếc + cái)

Cái + con + N = cái con chó kia, cái con yêu tinh kia, cái con khỉ kia v.v.

Cái + thằng + N = cái thằng hề, cái thằng chó, cái thằng tướng, cái thằng đểu

Cái + quyển + N = cái quyển vở, cái tập sách, cái bó v.v.

Con, cái, chiếc, có lẽ là rất phổ biến trong tiếng Việt. Bình thường, “con” chỉ động vật, “cái”, “chiếc” chỉ vật, nhưng nhiều trường hợp, chúng có thể thay thế cho nhau mà không thể giải thích được. Loại từ trong tiếng Việt nó mang tính võ đoán, giống như phạm trù giống trong một số tiếng Ấn Âu vậy. Người Việt dùng theo thói quen và không cần giải thích. Người nước ngoài có lẽ nên chấp nhận và ghi nhớ máy móc thôi.

Dùng sai loại từ sẽ thấy sự ngây ngô trong sử dụng tiếng Việt dù chẳng gây cản trở gì trong chuyện giao tiếp. Cố tình dùng sai loại từ bởi một số người bản ngữ lại có ý nghĩa tu từ nhất định, nhiều khi gây cười.

(wrong use of classifiers doesn’t seem to cause any problem in comprehension, yet reveals ackwardness or incompetence in the language. Any other than accidentally wrong use will possibly serve as a stylistic device for e.g. a joke.

Chẳng hạn: có giáo viên nói: mời CHIẾC áo xanh lên bảng. Theo chuẩn mực tiếng Việt thì “áo xanh” là một hiện tượng hoán dụ, chỉ một em học sinh mặc áo xanh. Giáo viên cố tình gọi học sinh là “chiếc” thay cho “em”, “bạn”, “chị”, “cô” etc., vốn dùng để chỉ vật, với hàm ý gây cười. Nhưng kể cả như trường hợp này thì cũng không phổ biến. Rất ít người Việt dùng như vậy để gây cười.

Loại từ tiếng Việt cũng thật đa dạng. Hình như có lần tôi đã thống kê, có khoảng gần trăm loại từ tiếng Việt. Loại từ cũng có tác dụng trong việc phân biệt số ít số nhiều, nói chung chung hay nói cụ thể trong tiếng Việt.

Dưới đây là thống kê các loại từ tiếng Việt (tương đối):

con, cái, chiếc – vô cùng nhiều, hầu hết các danh từ đều có thể đi với hoặc cái, chiếc hoặc con

tờ (giấy, giấy bạc, truyền đơn, rơi, hóa đơn, biên lai), tập (sách, vở, truyện, phim), quyển, bộ (phim, sách, từ điển), bông (hoa, hoa tai, + các loại hoa như hồng, cúc, mai, sen), bông hoa (hồng, tai, cúc etc.), bài (hát, ca, tập làm văn, họa, thơ, phúng, điếu, hò, dân ca hò , chòi, nhạc cổ truyền, đối, v.v.), mái / đụn/ lụn (tóc, tóc mai, tóc thề, hàm (răng), bản (nhạc, khắc gỗ), cặp (kính, bánh chưng, bánh dày), hũ (rượu), ché (rượu), bi (thuốc), điếu (thuốc thuốc lá, thuốc lào), viên (thuốc), lọ (nước, tương, hành, muối), bình (rượu, thuốc trừ sâu, cứu hỏa), chai (nước, thuốc), lon (bia, cô ca), cút (rượu), xị (rượu), cây (chuối, tỏi, bất cứ tên cây nào), lít rượu, trái/quả (lựu, đào, tên bất cứ loại hoa quả nào), bụi / búi(tre, cây, chuối), bắp (ngô, tay, chuối), bẹ (chuối, cau), buồng (chuối, cau), chùm (nho, nhót, khế), búi (tóc), làn (môi, nước), thỏi (son, vàng, kẹo, sắt, sô cô la), thanh (sắt, tre, kẹo), hạt (gạo, cà phê, đậu), củ (khoai, sắn, khoai, su hào), tấm (gỗ, phản, vải, ván, thân, chồng), mảnh (vải, giẻ, sành, vải che thân, đời), mùa (thu, xuân, hạ, đông), ngọn (gió, rau), cánh (tay, chân, đồng), thửa (ruộng), bậc (thềm, cửa), bờ (rào, ruộng, đê, mương), giấc (mơ, ngủ), chén (rượu, trà), tiếng (thời gian, chim, chân, đập của trái tim, kim đồng hồ), bước (chân, nhảy, sóng, đi, lùi, tiến), nhịp (đập, phách, cầu), câu (hò, ca, đối, vè, hỏi, trả lời, hát), miếng (bánh, ngon, nước), ngụm (nước), giọt (sương, nước), vũng (nước), ổ (gà, voi, trâu, trứng, gái điếm, mại dâm, ma túy v.v.), tổ (chấy, chim, đỉa, con chuồn chuồn), đụn (mối, cát), đống/bãi (rác, cát, sỏi, phân), bãi (nước bọt, nước đái, phân, rác), thằng (hề, + bất cứ tên riêng hay người, hòn (đất, đá), cục (đất, đá, vàng), đóa (hoa, hồng, sen), muỗng / thìa (canh, cơm), bát (cơm, canh, nước, chè), cốc (chè, trà), chòm (sao, râu), cuộn (dây, chỉ), thẻ (bài), quân (cờ, tốt, xe), đội (thanh niên, xe), lớp (học), lô (đề, quần áo, nhà), dãy (nhà, bàn, ghế), đàn (chim, vịt, trâu, bò), bầy (thê tử, chim, vịt), chuỗi (hạt), xâu (cá, cua), hộp (bánh, kẹo, xốp, các tông), vòng (cổ, hoa, nguyệt quế), thúng/rổ/mẹt (gạo, cám, tấm, lạc, vừng), bồ (lúa, thóc), vựa (thóc, gạo), tiếng (chim kêu, đàn, kêu, khóc), mũi (kim, khâu, tiêm), phát (đạn, súng), kho (người làm, thuốc, bạc), mụn (con gái, con), nhát (dao, búa, kiếm), huyện (người), xúc (vải), ván (bài), cuộc (đấu, chơi, đua, tỉ thí), lượt (chơi, đua, đi, về, yêu), đường (đi, đua, cua, lùi), nước (cờ, đi, chơi), bảng (phân loại, hỏi), bàn /phép (tính, toán), thuật (toán), loài (chim, cây, cá, hoa), kiểu (ảnh, phim), thể loại (sách, truyện, phim ảnh, âm nhạc)

Danh sách còn có thể tiếp tục.

Any more classifiers will be welcome!

Do tiếng Việt không dùng quán từ, hầu hết người học hay mắc lỗi với quán từ. Ví dụ, để dùng khái quát hóa vấn đề, tiếng Anh thường dùng với quán từ không xác định (a/an) với danh từ đếm được, hoặc số nhiều nhưng người học lại hay bỏ qua.

“ngoài đường xe cộ đi lại nhộn nhịp, ô tô, xe máy, xe đạp v.v. dùng cars, scooters, bikes thay cho số ít không có quán từ.

Tác dụng của máy tính là … (computers thay cho số ít).

Như vậy, để thành lập số nhiều trong tiếng Anh, người ta thường thêm s, nhưng với tiếng Việt thì không phải là tiếng biến hình nên không thể dùng tiếp tố để tạo số nhiều, thay vào đó, sẽ dùng các phép như láy từ, hoặc tập hợp từ. Ví dụ: viên sỏi và nhiều viên sỏi, để nói chung chung, người ta nói sỏi đá, hay bông hoa (số ít) thì dùng hoa lá, hoa hoét để nói chung chung, hoặc số nhiều, hạt muối – nhiều hạt muối lại chỉ dùng “muối”, hay nước  nôi – nước, củi lửa – củi, cá mú (cá), nhà cửa (nhà), vườn tược (vườn), ao chuông (ao), tiền bạc (tiền), bạn bè (bạn), trộm cướp (trộm), cơm nước (cơm), nhậu nhẹt (nhậu), học hành (học), làm lụng (làm), chơi bời (chơi), đàn hát (đàn, hát), nhảy múa (múa, chơi), tính toán (tính), vẽ vời (vẽ), mua bán (mua, bán), ăn uống (ăn, uống), đĩ điếm (đĩ), cờ bạc (cờ), hút sách (hút), bay nhảy (bay, nhảy), đi lại (đi, lại) v.v.

Tagged: , , , , , ,

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: