Vũ Thế Khôi: Công cuộc canh tân nền giáo dục đại học Việt Nam trong những năm đầu dựng nước 1945-1946

Nhân đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục nhìn lại lịch sử

CÔNG CUỘC CANH TÂN NỀN GIÁO DỤC ĐAI HỌC VIỆT NAM

trong những năm đầu dựng nước 1945-1946

Vũ Thế Khôi

Muốn đổi mới hệ thống giáo dục hiện hành một cách thưc sự «CĂN BẢN » và « TOÀN DIỆN » thì như nhóm nhà khoa học danh tiếng trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ trì đã cùng viết trong bản Kiến nghị năm 2004 gửi Trung ương Đảng và Chính phủ « trước hết cần thay đổi tư duy giáo dục »[1], tức triết lý giáo dục, như thuật ngữ mới trở nên thông dụng ở ta mươi năm gần đây.

Kinh nghiệm lịch sử về việc thay đổi căn bản tư duy giáo dục trong buổi đầu dựng nước có thể rất bổ ích cho công cuộc đổi mới giáo dục hiện thời.

Trong Chính phủ Nhân dân Lâm thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các cơ quan của nó có một nhóm nhân vật khá đông đảo mà một chuyên gia nghiên cứu về giới trí thức Việt Nam xác định là “những người thừa kế của lớp sĩ phu yêu nước <…> những dòng họ đã kinh qua phong trào Cần vương, phong trào Duy tân”[2]. Căn cứ một vài kết quả sưu tầm và khảo cứu gần đây về gia đình và bản thân Nguyễn Ái Quốc[3], có thể thấy rằng chính vị Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Lâm thời chẳng những từng có mối quan hệ tình cảm thân thiết với nhiều sĩ phu Duy tân và Đông Kinh nghĩa thục mà rõ ràng đã kế thừa nhiều tư tưởng của họ, đặc biệt là đường lối giáo dục quốc dân trong buổi đầu chỉ đạo xây dựng nền giáo dục mới của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Có thể nói không phải là ngẫu nhiên việc Hồ Chủ tịch nhắm vào cương vị Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục những hậu duệ trực tiếp của các “dòng họ đã kinh qua phong trào Cần vương, phong trào Duy tân” như Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha[4] (cư sĩ Thiều Chửu xin không nhận chức để được tiếp tục sự nghiệp hướng thiện), Vũ Đình Hoè và Nguyễn Văn Huyên. Vị cựu Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục đầu tiên có lý khi nêu ý kiến: “Trước hết, tôi nghĩ, những tư tưởng chủ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò của giáo dục trong sự nghiệp cách mạng giải phóng và kiến quốc không xuất hiện ngẫu nhiên, cũng không phải đem đâu đó từ bên ngoài vào, mà bắt nguồn từ những truyền thống và những tư tưởng giáo dục của nhiều thế hệ chí sĩ cách mạng Việt Nam, được Người tiếp thu và phát triển theo quỹ đạo tư tưởng cách mạng xã hội của mình (tác giả nhấn)”. Cũng không phải vô cớ mà ông “bất giác liên hệ” 3 nội dung chủ yếu của phong trào Duy tân là Dân trí, Dân khí và Dân sinh với “3 nhiệm vụ mà ngay sau khi đọc Tuyên ngôn Độc lập Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt ra trước Chính phủ Lâm thời và toàn thể quốc dân: diệt giặc đói (Dân sinh đó!), giặc dốt (Dân trí đó!), giặc ngoại xâm (Dân khí đó!)”[5]. Có thể có người cho rằng: dân vừa mới chết đói 2 triệu người và quân xâm lược Pháp lại đang lăm le ở biên cương thì việc nêu các nhiệm vụ diệt giặc đói, giặc ngoại xâm là đương nhiên. Thế nhưng còn diệt giặc dốt thì tại sao lại nêu ra trong tình hình nước sôi lửa bỏng như vậy, nếu như không phải là bắt nguồn từ tầm nhìn sâu xa của cuộc “cách mạng tân văn hoá” Duy tân – Đông Kinh nghĩa thục?

Vốn đã từng khảo cứu trong loạt bài đăng trên báo Thanh Nghị từ tháng 6 – 1941 đến tháng 5 – 1945[6] về nền giáo dục của một số nước tiêu biểu ở Âu – Mỹ – Á và đề xuất nhiều ý tưởng mới về giáo dục gia đình và giáo dục bình dân, về cải cách giáo dục Việt Nam, về tái lập nền cổ học Á Đông như một chuyên ngành “có ý nghĩa then chốt” trong công cuộc xây dựng văn hoá dân tộc, về “xã hội giáo dục” mà thuật ngữ ngày nay gọi là “xã hội học tập (“learning society”)”[7], cho nên ô. Bộ trưởng Hoè, được sự chỉ đạo trực tiếp của Hồ Chủ tịch và với sự tham góp của các học giả trong Hội đồng cố vấn học chính, đã nhanh chóng trình Chủ tịch Chính phủ Đề án cải cách giáo dục trên những nguyên tắc căn bản Dân chủ – Dân tộc – Khoa học, sau đó theo chỉ thị của Người lại tiếp tục hoàn thiện và đem báo cáo trước Hội nghị Văn hoá toàn quốc tháng 11 – 1946. Đề mục II trong bản báo cáo đó – Vấn đề cải cách giáo dục trong nước Việt Nam mới, đã nêu những nguyên lý của nền giáo dục quốc dân như sau: “Trước hết nền giáo dục mới là nền giáo dục của một nước độc lập: nó phải tôn trọng nhân phẩm, rèn óc tự cường và làm phát triển tài năng cá nhân đến tột bực; nó phải phát huy những cá tính của dân tộc, gây một tinh thần quốc gia mạnh mẽ và xây dựng một nền học thuật độc lập của nước nhà trong sự tiến hoá chung của nhân loại” (chúng tôi nhấn)[8]. Trong đề mục III – Chính sách giáo dục mới và sự tổ chức các bậc học, tác giả xuất phát từ những nguyên lý trên, đã thuyết minh cụ thể hoá 3 nguyên tắc Dân chủ – Dân tộc – Khoa học. Dân chủ có nghĩa là không dành riêng cho một thiểu số giầu có, mà là một nền giáo dục duy nhất (tức không tách biệt tiểu học cho dân chúng, trung và đại học cho giai cấp tư sản) và bình đẳng. Dân tộc một mặt nghĩa là mở mang những đặc tính, những năng lực của giống nòi để không bao giờ vong bản, mặt khác là tạo một tinh thần quốc gia mạnh mẽ sáng suốt để quốc dân biết đem toàn lực phụng sự tổ quốc trong khi phụng sự lý tưởng dân chủ. Khoa học là không có tính chất nhồi sọ, căn cứ sinh lý, tâm lý từng đối tượng mà phát triển các năng lực cá nhân, không quá coi trọng lý thuyết mà coi rẻ thực hành, làm sao để thanh niên biết dùng cái học thức vào đời sống của mình và của xã hội, không quá thiên về mặt giáo huấn mà nhãng bỏ phần dưỡng dục, để khỏi tạo nên những kẻ có học thức nhưng thiếu lương tâm và ý chí.

Tóm lại, đó là một quan điểm khá toàn diện, nhưng trong phạm vi chủ đề đang bàn chỉ xin thử tìm hiểu xem cái minh triết, tức định hướng căn bản của nền giáo dục quốc dân mới đã được thực thi như thế nào để hình thành tính chủ động trong tư duy, năng động trong thực hành, “biết đem toàn lực phụng sự tổ quốc trong khi phụng sự lý tưởng dân chủ”?

Tìm hiểu một số việc cải cách bước đầu của Bộ Quốc gia Giáo dục ngay trong niên khoá đầu tiên 1945 – 1946, chúng tôi thấy có mấy điềm sau đây thể hiện khá rõ cái “tinh thần đại học ”mới đang bắt đầu hình thành.

Một là, khai giảng những lớp chính trị xã hội mà ông Giám đốc Đại học vụ Nguyễn Văn Huyên gọi là “Ban Chính trị xã hội”. Ông chỉ rõ: “Ban Chính trị xã hội dùng để thay thế cho Ban Luật học cũ vì khuôn khổ ấy không thích hợp với sự nhu cầu của mọi ngành xã hội cách tân này” (chúng tôi nhấn)[9]. Niên khoá 1945 – 1946 có hai lớp, một lớp đặc biệt dành cho những sinh viên đã học qua hai năm Luật khoa rồi [tức Luật khoa của Đại học Đông Dương cũ, – V.T.K]; một lớp thường thì mở chung cho tất cả những thanh niên có bằng tốt nghiệp trung học muốn chuyên về mọi ngành chính trị và hành chính. Riêng lý do ra đời của khoa mới này mà tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên nêu trên đây, đã thể hiện một tinh thần “động” của nền giáo dục quốc dân mới – giáo dục đại học phải đáp ứng kịp thời các nhu cầu luôn luôn đổi mới của xã hội. Tinh thần ấy còn thể hiện rõ hơn qua cơ cấu chương trình. Tuy mang danh “Ban chính trị xã hội” và mục tiêu là “đào tạo trong một thời gian ngắn những cán bộ chuyên môn cần thiết cho những cơ quan hành chính, tư pháp, ngoại giao”[10], thế nhưng không có một môn chính trị suông nào (mặc dù trong số giáo sư có những nhà chính trị lỗi lạc như Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Giàu!) mà toàn là những môn thực nghiệp, cần thiết thực sự cho hoạt động nghề nghiệp tương lai: đã giảng những môn dân luật, hiến pháp, kinh tế, Anh ngữ và Nga ngữ cho năm thứ nhất lớp bình thường; tài chính, luật thương mại và hàng hải, Anh ngữ và Nga ngữ cho lớp đặc biệt. Hơn nửa thế kỷ sau nhìn lại, cựu Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục đầu tiên nhận định: “Tôi trộm nghĩ Lớp Chính trị xã hội ấy mang đầy đủ tinh thần đại học, hơn nữa bắt đầu xây đắp triết lý giáo dục cho toàn thể hệ thống giáo dục của nước Việt Nam mới”[11].

Hai là, phương pháp giảng dạy chú trọng phương thức chủ động học tập nghiên cứu và thảo luận của sinh viên. Điều thứ 3 trong Nghị định ngày 3 – 11- 1945 của Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục Vũ Đình Hòe quy định: “Mỗi năm giáo sư môn nào sẽ chọn lấy một hoặc hai đầu đề trong chương trình mà giảng, và một vài đầu đề khác mà chỉ dẫn cho sinh viên khảo cứu mà học. Còn những đầu đề khác thì tự sinh viên tìm kiếm lấy mà học nếu muốn thi về môn ấy”(chúng tôi nhấn)[12]. Có nghĩa là nếu không chọn thi môn ấy mà chọn thi môn khác thì chỉ cần nghe giảng một hoặc hai chủ đề để được định hướng về môn học, tự khảo cứu dưới sự chỉ dẫn của thày thêm vài chủ đề nữa trong chương trình để rèn luyện phương pháp tự học, chứ không phải suốt năm ngồi thụ động nghe thày giảng tất tật các chủ đề trong chương trình môn học. Chúng ta thấy sự thể hiện rất rõ luận điểm: “Học vấn chỉ là phương tiện của giáo dục, hoạt động mới là cứu cánh của nó”[13] – luận điểm này thể hiện rất rõ cái triết lý giáo dục vị nhân sinh mà vị Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục đầu tiên từng  phát biểu.

Đương nhiên, phương pháp giảng dạy như vậy đòi hỏi phải có những người thầy giỏi. Điều đó, ô. Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục đã thực hiện được do ngày ấy “chủ nghĩa thành phần” và thói câu nệ bằng cấp chưa ngự trị trong giảng đường đại học: bên cạnh Võ Nguyên Giáp và Trần Văn Giầu, Lê Văn Thiêm, Hoàng Tuỵ, Đặng Thai Mai, Đào Duy Anh … chúng ta còn thấy Hồ Hữu Tường, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Cao Xuân Huy, Trương Tửu … – những trí thức danh tiếng. Tinh thần đại học phóng khoáng và sáng tạo, phương pháp đại học chủ động, đội ngũ giảng viên uyên bác – ba nhân tố ấy đã đào tạo ra cả một lớp trí thức mới mà tên tuổi ngày nay được biết đến cả trong và ngoài nước như: Nguyễn Văn Hiệu, Phan Đình Diệu, Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Nguyễn Tài Cẩn, Cao Xuân Hạo và nhiều người khác.

Ngày nay nhiều môn thậm chí thày chỉ có thể đọc theo sách, trò chép theo hàng nghìn trang. Chính định hướng buộc công nhận không bàn cãi, nội dung chương trình kinh viện cùng phương pháp dạy nhồi nhét của chúng ta, và – cần dũng cảm “nhìn vào sự thật và nói sự thật” – trình độ còn yếu kém của đội ngũ thầy cô (“cơm chấm cơm”, dù là cơm có dán nhãn TS, GS!), đã dồn các trò vào thế phải học vẹt, khi vào thi thì giở “phao” ra chép, ra khỏi phòng thi là quên, đặc biệt là cái mớ kiến thức lý thuyết kinh điển lộn xộn.

Một điểm thứ ba nữa thể hiện rõ tinh thần đại học trong những năm đầu xây dựng nền giáo dục mới, là: rất chú trọng ngoại ngữ. Ở Nhật Bản thời Minh Trị, khi cải cách giáo dục phục vụ duy tân, trong những bước đầu sau bậc học phổ thông người ta đã dành hẳn 3 năm có thể coi là dự bị đại học ở các trường kotôgakkô (cao đẳng học hiệu): “Chúng có mục đích trong 3 năm đào tạo thanh niên biết thực hành ngoại ngữ song song với việc ôn luyện nâng cao những kiến thức đã học để chuẩn bị cho họ vào đại học”[14]. Trên đây chúng ta đã thấy sinh viên Ban Chính trị xã hội phải học song song 2 sinh ngữ là Anh ngữ và Nga ngữ (một tầm nhìn vượt thời gian! – xin nhớ cho là ngày ấy còn chưa có Thuỷ điện Sông Đà, Vietsopetro, máy bay MIG và tên lửa SAM!). Giám đốc Đại học vụ Nguyễn Văn Huyên trong lời khai giảng niên khoá đầu tiên của Đại học Quốc gia Việt Nam đã nhấn mạnh: “Trong thế giới đại đồng hiện nay không một nước nào dầu lớn hay nhỏ, là có thể sống tách biệt được, nên trường Đại học sẽ chú trọng đặc biệt ngay trong niên khoá I 1945 – 1946 tới những sinh ngữ như tiếng Trung Hoa, tiếng Anh – Mỹ, tiếng Nga”[15]. Tiếng Pháp không được nhắc tới chẳng qua vì lúc ấy tất cả những người có bằng trung học đều đã thông thạo sinh ngữ ấy. Tức cả 4 ngoại ngữ thông dụng (ngày nay nên thêm tiếng Ả rập và tiếng Tây Ban Nha) đều phải dạy ở đại học, còn sinh viên chọn học ngoại ngữ nào thì do chuyên ngành học quy định hoặc họ tự chọn. Thiết tưởng những vị mới đây đề nghị chỉ dạy một ngoại ngữ là tiếng Anh trong toàn bộ hệ thống giáo dục nên suy nghĩ về tầm nhìn của mình. Một tầm nhìn, như có thành ngữ nói: không xa hơn cái chóp mũi! – đặc biệt nếu xét từ góc độ văn hoá – giáo dục. Điều thứ 9 trong bản Nghị định nói trên còn quy định: “Sinh viên thi đậu được 4 môn rồi và sau khi đã khảo về  một sinh ngữ ngoại quốc thì được cấp bằng Văn khoa đại học sĩ [tức cử nhân, – V.T.K.]”. Có nghĩa là ngoại ngữ, được khẳng định là phẩm chất tư cách không thể thiếu của người có học vấn đại học, hơn nữa lại là những viên chức nhà nước trong “thế giới đại đồng”, hay “thế giới hội nhập” như ngày nay ta nói, bởi lẽ ngoại ngữ là công cụ để anh ta tiếp tục tự học suốt đời, phục vụ cho việc nghiên cứu và tác nghiệp có hiệu quả. Nay, kể từ khi có quy định sai lầm gắn việc đề bạt cán bộ với học vị và đẻ ra cái nạn mua bằng cấp, thì trên danh thiếp của chư vị lãnh đạo ban ngành và giảng viên đại học thấy nhan nhản kí tự ThS. TS, GS nhưng hỏi có mấy phần trăm sử dụng được một ngoại ngữ để nghiên cứu và làm việc với đồng nghiệp nước ngoài?

Để thay cho kết luận, chúng tôi xin phép nhắc lại lời Chủ tịch Hồ Chí Minh tế nhị (“nói như đùa”) phê bình Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn văn Huyên, người đứng đầu ngành giáo dục suốt ba chục năm, do chính ông kể lại như một “bài học nhớ đời”: “Dạy như các chú thì chỉ tạo ra những cái hòm sách, những cái bồ sách”[16].

Những cái bồ sách có thể chứa nhiều kiến thức, nhưng thường là hỗn độn, không thể giúp hình thành tư duy có hệ thống và sáng tạo làm kim chỉ nam cho hành động.


[1] Những vấn đề giáo dục hiện nay: quan điểm và giải pháp. – NXB Tri thức 2007, tr. 34.

[2] Trịnh Văn Thảo (Université de Provence): Les compagnons de route de Hô Chi Minh (Histoire d’un engagement intellectuel au Viet Nam). – Édition Karthala, Paris 2004, p.32.

[3] Vũ Thế Khôi: Một trào lưu văn hoá của sĩ phu Hà thành qua giải mã thơ văn chữ Hán. – Kỷ yếu Hội thảo khoa học tại  Khoa Ngôn ngữ học Đại  học  KHXH & NV Hà  Nội  ngày  29 – 12 – 2007 “Những vấn đề ngôn ngữ học: Học tập ngôn ngữ Hồ Chí Minh – Tiếng Hà Nội với ngôn ngữ văn hoá Việt Nam”, nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007, tr. 225 – 234.

[4] Tiểu sử các danh tăng Việt Nam thế kỷ 20”, Tập I. – Thành hội Phật giáo TP Hồ Chí Minh ấn hành 1995.

[5] Vũ Đình Hoè: Vài ký ức về tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác giáo dục thời gian cuối năm 1945 – đầu năm 1946. – Tham luận tại Hội thảo khoa học – thực tiễn “Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giáo dục” do Bảo tàng Hồ Chí Minh & Đại học Sư phạm Hà Nội đồng tổ chức ngày 8 – 10 – 2003; đã đăng: a) Tạp chí Khoa học và Tổ quốc (Diễn đàn trí thức), các số 21 / 2003, 1+2 / 2004; b) Tạp chí Văn hiến Việt Nam, số Xuân 2004; c) (giản lược) báo Giáo dục & Thời đại số 139, ra ngày 20 – 11 – 2003 ; d) (giản lược) tạp chí Xưa & Nay, số 233, 11 – 2004.

[6] Về sau xuất bản thành các sách: “Vũ Đình Hoè: Những phương pháp giáo dục ở các nước và vấn đề cải cách giáo dục”. – Thanh Nghị tùng thư, Hà Nội 1945” và “Vũ Đình Hoè: Một nền giáo dục bình dân”. – nxb Đại La 1946.

[7] PGS TS Nguyễn Như Ất: Suy nghĩ trước vấn đề quản lý nhà nước về giáo dục, xây dựng xã hội học tập. – tạp chí Giáo dục và Thời đại Chủ nhật, các số 6 (177), ra ngày 8 – 2 – 2004, 7 (178), ra ngày 15 – 2- 2004. PGS Ất cho rằng ô. Vũ Đình Hoè đã nêu ý tưởng “xã hội học tập” trước Edgar Faure (trong sách “Learning to be”, Paris, UNESCO, 1972 )

[8] Vũ Đình Hoè: Tình hình giáo dục ở nước Việt Nam xưa và nay (Báo cáo về dịp Hội nghị văn hoá toàn quốc). – Bản thảo đánh máy lưu trong hồ sơ riêng tại gia đình; chưa phát hiện đã được công bố ở đâu vào thời điểm Hội nghị họp, có lẽ do tình hình khẩn trương: 19 – 12 – 1946 cuộc Kháng chiến toàn quốc bùng nổ; 47 năm sau, năm 1993 sách “Nguyễn Q. Thắng: Khoa cử và giáo dục Việt Nam”.(nxb Văn hoá Thông tin) mới trích in một phần dưới đầu đề “Ý kiến LS Vũ Đình Hoè”, chính là đề mục III – Chính sách giáo dục mới và sự tổ chức các bực học, trong đó có thuyết minh về 3 nguyên lý Dân chủ – Dân tộc – Khoa học.

[9] Nguyễn Văn Huyên: Lời phát biểu tại buổi Lễ khai giảng trường Đại học Quốc gia Việt Nam ngày 15 – 11 – 1945. – Báo Nhân Dân ngày 31 – 12 – 2001.

[10] Vũ Đình Hoè: Tờ trình Quốc dân Đại hội [Quốc hội khoá I] của Bộ Quốc gia Giáo dục. – Bản thảo đánh máy lưu trong hồ sơ riêng tại gia đình; đã in trong “Vũ Đình hoè: Pháp quyền Nhân nghĩa Hồ Chí Minh” (Q.I). – nxb Văn hoá Thông tin & Trung tâm văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, 2001, Phụ lục 2, tr. 393.

[11] Vũ Đình Hoè: Tinh thần đại học (Bài phát biểu của GS Vũ Đình Hoè, nguyên Bộ trưởng Quốc gia giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tạI Lễ kỷ niệm 60 năm khai giảng đầu tiên nền giáo dục cách mạng Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội, ngày 15 – 11 – 2005). – Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội, số 177, năm 2005, tr. 6 – 10; cũng đăng: báo Tiếng nói Việt Nam, cơ quan của Đài Tiếng nói Việt Nam, số 92 (413), ra ngày 17 – 11 – 2005; tạp chí Xưa & Nay của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, số 249, tháng 12 – 2005.

[12] Việt Nam Dân quốc công báo, số 9, ngày 17 – 11 – 1945. – Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà xuất bản.

[13] Vũ Đình Hoè: Những phương pháp giáo dục ở các nước và vấn đề cải cách giáo dục. – Thanh Nghị tùng thư, Hà Nội 1945, tr. 110.

[14] Phạm Quỳnh: Tiểu luận (Viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922 – 1932. Essais 1922 – 1932). – Phạm Toàn giới thiệu và biên tập. – nxb Tri thức & Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, Hà NộI 2007, tr. 424.

[15] Nguyễn Văn Huyên, tài liệu đd trên.

[16] Vũ Đình Hoè: Vài ký ức…, tài liệu đd trên.

Tagged: , , ,

One thought on “Vũ Thế Khôi: Công cuộc canh tân nền giáo dục đại học Việt Nam trong những năm đầu dựng nước 1945-1946

  1. trần thị lan September 22, 2012 at 4:50 am Reply

    Quá tuyệt vời.
    Phương pháp học tập tích cực và chú trọng ngoại ngữ – những vấn đề chưa bao giờ cũ đã được đề cập tới cách đây 2/3 thế kỉ.
    Thế mà ngay cả chương trình đào tạo tiến sĩ của ta hiện nay mới chỉ yêu cầu đạt 4.5 ielts đã bị coi là “khó”…

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: