Vũ Thế Khôi – “Học là học có nghề có nghiệp” – phương châm đổi mới căn bản trong đường lối giáo dục quốc dân của Đông Kinh nghĩa thục

Bắt đầu từ giờ, sẽ trích đăng các bài báo của các chuyên gia, hoặc đồng nghiệp (bậc thầy) ở mục: Đồng nghiệp viết

“Học là học có nghề có nghiệp” – phương châm đổi mới căn bản
trong đường lối giáo dục quốc dân của Đông Kinh nghĩa thục

Vũ Thế Khôi
Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây

Trên đây là một câu trong bài ca cổ động thực học của trường Đông Kinh nghĩa thục chống lại lối học cử nghiệp của Tống nho, trong “cạnh tranh thời đại” chẳng những vô dụng mà còn trở nên nguy hại do làm bại hoại cả dân trí, dân khí lẫn dân sinh, nên các bậc trí thức Nho học Duy tân kiên quyết đả phá, đòi phế bỏ. Đối với các Nho sĩ là lớp người đã hơn tám trăm năm, kể từ khoa thi chữ Hán đầu tiên dưới triều Lý, chỉ có con đường tiến thân duy nhất là nhờ khoa cử, thì từ bỏ nếp học tầm chương trích cú nhằm đoạt bảng vàng làm bước thang mây thăng tiến trên hoạn lộ, quả là một nhận thức cách mạng, một sự giải phóng tư tưởng triệt để.
Ngày nay nhìn lại tưởng như dễ dàng, nhưng thực ra đó là cả một quá trình trăn trở hàng trăm năm. Khởi sự từ đầu thế kỷ XIX, khi sĩ phu tiên tiến dưới triều Nguyễn có được tiếng cười tự nhạo sự vô dụng của tầng lớp mình trong cuộc mưu sinh:
Phong trần chót dấn, phải gieo neo,
Bởi chẳng tìm ra cách trị nghèo:
Học cổ làm quan nay chẳng hợp,
Đi cày kiếm bữa – vụng tay gieo,
Nghề công – ngại chuyện lòng thành máy,
Nghiệp mại – lo để tiếng ác điêu*.
Tự trách mưu sinh tài thảy vụng,
Thôi đành mặc phận, ngó nhìn theo!
*Nguyên văn: để tiếng cắt cổ người
(Vũ Tông Phan: Ngẫu cảm – 1831)

Đến lớp môn sinh của họ ở giữa thế kỷ XIX, sau khi được xuất dương trong các sứ đoàn, bắt đầu được tiếp xúc với văn minh phương Tây, thì tiếng cười tự nhạo đó đã trở thành lời phê phán trực tiếp một cách gay gắt cái học cử nghiệp cùng cái tệ “cùng tột” do nó đẻ ra là: “cao đàm Nhân – Nghĩa, đạo đức mà cho việc xây dựng sản nghiệp là hèn mọn, cam tâm ăn bám hết nơi này nơi khác” . Tuy nhiên chỉ đến khi hệ thống tư tưởng Nho học (nói chính xác là Tống nho) bảo thủ cùng nền khoa cử hủ bại, theo các cụ, trở thành kẻ tội đồ làm mất nước vào tay ngoại bang văn minh, lại được chứng kiến tấm gương Nhật Bản nhờ duy tân mà trở nên cường quốc, thì “học dĩ trị sinh” mới có thể đột biến thành phương châm mang tính cách mạng “học là học có nghề có nghiệp”.
Nếu như “đường lối” phổ cập thứ “chữ Quốc ngữ là hồn trong nước” (chứ không phải thứ chữ Quốc ngữ dẫn đến cái “vạ chết hồn”, tức chỉ đủ làm tay sai để vinh thân phì gia) nhằm mục tiêu biến đám thần dân-“bù nhìn” thành những “quốc dân” có tinh thần dân tộc, tư tưởng dân chủ và chí khí tự cường, dám “động” khi xảy ra những biến cố liên quan vận nước, thì phương châm “học là học có nghề có nghiệp” nhằm đảm bảo cho lớp người mới ấy một khả năng tự lập trên cơ sở những kiến thức khoa học thường thức và những kỹ năng nghề nghiệp thiết thực. Ngay từ năm 1967, trong lần xuất bản thứ 2 cuốn sách của mình về ĐKNT, học giả Nguyễn Hiến Lê đã nhận xét: “Sau 60 năm chương trình của bộ Quốc gia Giáo dục vẫn chưa chú trọng vào hai điểm đó” . Về nền giáo dục ở miền Bắc Việt Nam thì cũng khoảng thời gian đó, như chúng tôi đã dẫn trong tham luận tại Hội thảo tháng Giêng 2008 cũng do Đại học Hoa Sen tổ chức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tế nhị (“nói như đùa”) phê bình Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên: “Dạy như các chú thì chỉ tạo ra những cái hòm sách, những cái bồ sách” . Còn hiện nay, sau nhiều lần cải tiến và cải cách, nhưng “càng chữa thì càng rối, kéo dài mãi một tình trạng ngày càng bế tắc” (Nguyên Ngọc) , riêng hội chứng “thừa thầy, thiếu thợ” đã trở nên trầm kha đến nỗi cách đây mấy năm, tại một Hội chợ việc làm ở Trung tâm triển lãm Giảng Võ – Hà Nội, xí nghiệp nọ muốn tuyển vài ba kỹ sư thì có cả mấy chục người đâm đơn, trong khi đó một công ty may kia từ Hưng Yên lặn lội lên để tuyển 200 thợ may bậc 3 – 4 thôi, mà cho đến ngày Hội chợ đóng cửa cũng chưa lấy nổi năm chục! Tức thị vấn đề nan giải “học là học có nghề có nghiệp” vẫn còn nguyên đó!

Vậy mà cách nay đúng trăm năm, các cụ đồ Nho tại các Nghĩa thục đã bắt đầu giải quyết có hiệu quả vấn nạn đó. Điều kiện về mọi mặt của các cụ: cả về thông tin khoa học giáo dục lẫn cơ sở vật chất, không thể được như chúng ta ngày nay, nhưng khát vọng giải phóng cho người học và cho cả bản thân mình khỏi tệ hư học thì hơn hẳn nay một cách rõ ràng, do được dẫn đạo bởi một triết lý giáo dục thực sự cách mạng: muốn biến thần dân-“bù nhìn” thành “quốc dân” năng động thì “khai dân trí” phải song hành với “cường dân”, mà dân cường sao được với một mớ lý thuyết suông, không nghề không nghiệp! Trước hết, các cụ đã rất sáng suốt xuất phát từ một nguyên lý mà các chuyên gia chuộng mô hình giáo dục ngoại lai này nọ thường lãng quên: “Giáo dục quốc dân thường phải tuỳ phong tục, tập quán, lịch sử, chính thể từng nước nên không giống nhau. Ở nước ta thì phải lấy trình độ giáo dục của nước ta làm chuẩn mà hoàn thiện tư cách của quốc dân ta” (chúng tôi nhấn).
Mặc dù Văn minh tân học sách, tài liệu được coi là “cương lĩnh” của phong trào Duy tân – Nghĩa thục, có giới thiệu nền học vấn ở các nước văn minh “chia làm ba bậc: tiểu học, trung học và đại học, cứ 4 năm là một kỳ (tức một cấp – VTK)” , cũng như thơ ca cổ động có nêu: “Các thứ học phổ thông đã suốt, học chuyên môn cốt một nghề cao”, nhưng với tình trạng kinh tế, xã hội và dân trí nước ta khi ấy, các cụ cho rằng giáo dục phổ cập chỉ nên là tiểu học, dạy hoàn toàn bằng chữ Quốc ngữ: “trường tiểu học thực hiện giáo dục phổ cập” và xác định rõ mục tiêu của nó rất cụ thể là: “nhằm làm cho các tầng lớp người vốn khác nhau về trình độ trở thành hiểu biết ngang nhau để cùng nhau làm cho văn minh tiến lên” . Các cụ tỏ ra rất thực tế, không chuộng danh hão, không đua với người về tỷ lệ cao / thấp sinh viên đại học, thạc sĩ, tiến sĩ mà thực sự vì mục đích cường dân để cứu nước. Có thể khẳng định rằng các trí thức Nho học Duy tân chủ trương hướng nghiệp sớm, ngay sau 4 năm tiểu học, cho học sinh của họ mà số đông khi ngồi lên ghế nhà trường thì đã ở tuổi phải lập thân rồi. Điều này có thể thấy qua thơ ca cổ động cho sự tinh thông thực nghiệp:

Có vua Bỉ – Đắc* xưa kia,
Bỏ ngôi đi học lấy nghề bách công.
(* tức Nga hoàng Piôt’r Đại đế)

và qua việc nêu gương Nhật Bản có: “Trường thực nghiệp. Những người làm nghề nông, công, thương cũng phải được đào tạo” cũng như việc khuyến cáo “các bậc nông, công, thương giầu có cũng nên cho con em đi học các trường thực nghiệp của nước ngoài, để cho cái nghề gốc của mình thịnh vượng lên mà chiến thắng cái hư vinh của khoa cử vạn vạn lần vậy” . Đông Kinh nghĩa thục tồn tại quá ngắn ngủi, vẻn vẹn 9 tháng, chưa kịp thực hiện ý tưởng đáp ứng sít sao thực trạng xã hội nước ta hồi đầu thế kỷ XX, tuy nhiên không ít nghĩa thục ở các địa phương, hình thành trước ĐKNT và tiếp tục hoạt động cả sau khi ngôi trường trung ương ở phố Hàng Đào bị đóng cửa, đã thực thi phương châm đó. Có thể nêu làm bằng chứng những sưu tầm mới đây về các trường tân học Phú Lâm ở xã Tiên Sơn huyện Tiên Phước – Quảng Nam của nhà thực hành Duy tân xuất sắc Lê Cơ và trường tân học An Phước ở xã Hoà Phong huyện Hoà Vang – Đà Nẵng . Hoạt động canh tân giáo dục và văn hoá ở giữa làng quê, những “nghĩa thục” này định hướng thực hành nông nghiệp rất rõ ràng. Trước hết, đó là nguyên tắc “thả học, thả canh” (vừa học tập vừa canh tác), tạo điều kiện cho học sinh tham gia hoạt động cày cấy, gặt hái và ứng dụng luôn kiến thức học được trên ghế nhà trường vào thực tế. Hai là, định hướng phục vụ nhân sinh ấy đã khiến giáo viên tìm cách gắn kiến thức sách vở với thực tế địa phương, ví dụ như môn địa có tham khảo sách Quảng Nam địa dư chí của Thượng thư Phạm Phú Thứ, môn sử có sử dụng tài liệu sưu tầm về dân tộc Chăm, môn thủ công dạy cho học sinh đan rổ rá, làm cối xay lúa, làm xe đạp nước v.v… Cũng nên nhắc lại cách chuyển tải thường thức khoa học bằng hình thức hò vè, đáp ứng yêu cầu truyền bá Quốc ngữ lại rất phù hợp với mặt bằng dân trí chung ngày ấy, như bài vè về tỷ trọng các chất sau đây:

Vật trong trời đất
Nặng nhẹ khác thường,
Lấy lít nước lường,
Cân thì biết sức.
Bạch kim nặng nhứt
Hai mươi hai lần,
Còn giống thuỷ ngân
Mười ba lẻ sáu.
Chì tuy không báu,
Mười một cân năm …
(Theo GS-TSKH Lâm Quang Thiệp, cựu h/s Tiểu học An Phước)

Chúng tôi xin phép không đề cập những hình thức hoạt động thực tế khác nhằm gắn liền nhà trường với xã hội, với sản xuất để thực hiện phương châm “học là học có nghề có nghiệp” như việc lập các thương điếm, đồn điền, hội buôn v.v… mà các sách đã đề cập nhiều. Chúng tôi muốn dành chút thời gian để nói về 1 dự án cải cách giáo dục có sự hướng nghiệp gần với phương châm “học là học có nghề có nghiệp” của phong trào Duy tân – Nghĩa thục.
Dự án này mới thể hiện trên giấy tờ vào năm 1946 của Bộ Quốc gia Giáo dục nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ngay sau Cách mạng tháng Tám 1945, Bộ Quốc gia Giáo dục đã chuẩn bị một Dự án cải cách giáo dục để xây dựng một nền giáo dục mới cho nước Việt Nam dựa trên 3 nguyên tắc căn bản: dân chủ, dân tộc và khoa học. Dự án đã được đưa ra thảo luận trong hai phiên họp của Hội đồng Cố vấn học chính, được thành lập theo Sắc lệnh ngày 10 – 10 – 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó Bộ Quốc gia Giáo dục định thành chính sách giáo dục. “Chính sách giáo dục ấy đã được Hội đồng Chính phủ chuẩn y cùng Ban Thường trực Quốc hội thoả hiệp” và ban hành bằng Sắc lệnh số 146 ngày 10 – 8 – 1946, đặt những nguyên tắc căn bản của nền giáo dục mới . Liên quan vấn đề trình bày trong tham luận này có những điều sau đây: nền giáo dục mới sau bậc học “ấu trĩ” (mẫu giáo, trước 7 tuổi), có 3 cấp: đệ nhất cấp (tức tiểu học, 4 năm), đệ nhị cấp với hai ngành học: 1. tổng quát (tức phổ thông, 4 năm) và 2. ngành học chuyên môn, lại gồm: a) bậc thực nghiệm* (1 đến 3 năm sau tiểu học, tuỳ nghề) và b) bậc chuyên nghiệp (3 năm), đệ tam cấp: bậc đại học.
Điều 7 của Sắc lệnh quy định: “1) Bậc thực nghiệm* dành cho học sinh sau một năm hướng dẫn tuyển trạch tỏ ra có năng khiếu và khuynh hướng về thực nghiệm* để luyện chúng thành những nông gia, thương gia và những công nhân lành nghề. Có nhiều ban dạy nghề và hạn học từ một năm đến ba năm tuỳ từng ban. Những học sinh đỗ tốt nghiệp ưu hạng ở bậc học thực nghiệm* có thể xin học lớp dự bị chuyên nghiệp để thi vào các trường chuyên nghiệp. 2) Bậc chuyên nghiệp dành cho học sinh đã theo học các lớp dự bị chuyên nghiệp chia ra nhiều ban và mục đích huấn luyện các cán bộ thực tiễn về phần học lý thuyết và thực hành để giúp việc kiến thiết quốc gia về các ngành kinh tế xã hội. Hạn học ít nhất là 3 năm và bằng tốt nghiệp là bằng kỹ sư. Những sinh viên đã đỗ kỹ sư vào hạng ưu có thể xin vào học các trường Cao đẳng chuyên môn bậc đại học mà không cần có bằng trung học tổng quát” (tức bằng tốt nghiệp phổ thông trung học – VTK) .

Chúng ta có thể thấy những gì qua những điều trên đây?
Một là, cũng một sự hướng nghiệp sớm, ngay sau bậc tiểu học 4 năm. Nguyên Bộ
trưởng Quốc gia Giáo dục trong Chính phủ Nhân dân Lâm thời nhớ lại ý kiến của Hồ Chủ tịch về vấn đề này, sau khi ông cùng một số vị trong Bộ và Hội đồng cố vấn học chính trình Người bản Dự án đã chỉnh sửa: “Tôi đồng ý ngay ở lớp cuối “sơ học” (bây giờ ta gọi là tiểu học) ta đã phải thực hiện việc hướng học sinh hoặc theo ngành thực nghiệp hoặc theo ngành học phổ thông. Dân ta, hoàn cảnh xã hội ta đòi hỏi như vậy. Rồi ngành phổ thông cũng phải sớm đi vào các cấp phổ thông chuyên ban. Để cuối cùng hướng học sinh vào các ngành đại học chuyên khoa hoặc các ngành chuyên nghiệp, tức là dạy nghề ở cấp cao, có kỹ thuật hiện đại” .
Hai là, có hướng dẫn học sinh tuyển trọn những ngả rẽ trong quá trình học tập, căn cứ năng lực và điều kiện của họ; đối với các học sinh ưu tú không có ranh giới cứng giữa các con đường học tập, tức đã manh nha sự liên thông giữa các hệ đào tạo phổ thông và chuyên nghiệp.
Thiết nghĩ, đó là một Dự án cải cách có nhiều ý tưởng tiếp nối phương châm “học là học có nghề có nghiệp” của các trí thức nho học Duy tân ái quốc ưu dân. Chiến tranh bùng nổ 19 – 12 – 1946 đã không cho phép nó biến thành hiện thực. Còn sau đó, từ cuộc cải cách giáo dục năm 1950, được mệnh danh là “lần thứ nhất”, đã đưa nền giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phát triển theo hướng khác. Các công trình chính thống về lịch sử giáo dục Việt Nam từ sau Cách mạng tháng 8 – 1945, không viết một chữ nào về Dự án cải cách năm 1946, coi như nó không hề tồn tại , mặc dù đã được ban hành thành Sắc lệnh của Chủ tịch chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà!
Ví thử Dự án 1946 được thực hiện, hoặc chí ít được tham khảo, thì cái nạn “thừa thầy, thiếu thợ” có đến nỗi nghiêm trọng như thế không?
Mới đây Bảo tàng Hồ Chí Minh cùng nhà xuất bản Giáo dục công bố bản scan bút tích bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhan đề Học sinh và lao động. Người viết:
“Thi đỗ tiểu học rồi thì muốn lên trung học, đỗ trung học rồi thì muốn lên đại học – riêng về mỗi cá nhân của người học sinh, thì ý muốn ấy không có gì lạ. Nhưng chung với nhà nước thì ý muốn ấy thành vô lý; vì bất kỳ ở nước nào số trường trung học cũng ít hơn trường tiểu học, trường đại học cũng ít hơn trường trung học.
Thế thì những trò tiểu học, trung học không được chuyển cấp sẽ làm gì?
Tiểu học và trung học là giáo dục phổ thông, nó bồi dưỡng học sinh thành những công dân có giác ngộ, có văn hoá, có sức khoẻ, thành đạo quân lao động hậu bị to lớn: mục đích chính của học sinh là để góp phần vào phát triển sản xuất của xã hội chủ nghĩa, nâng cao năng xuất lao dộng.
Vì vậy cần phải chuẩn bị tư tưởng cho học sinh sẵn sàng tham gia sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, hoặc công việc xây dựng khác” (chúng tôi nhấn).

Hình như có triết gia đã nói: Những kẻ quên bài học lịch sử sẽ lặp lại sai lầm của nó.

_____________________________________
* Tham luận khoa học tại Hội thảo quốc tế “Đổi mới giáo dục Việt Nam, hai thời khắc đầu thế kỷ”, do Đại học Hoa Sen, tổ chức ngày 8 – 12 – 2008, đăng Văn hóa Nghệ An, số 159, phát hành 25 10 2209; tải lại trên mạng Giáo dục & Thời đại online ngày 11/02/2011 10:37 (GMT+7)
.

Tagged: , ,

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: