Có nên làm việc ở các viện nghiên cứu không?

Nghe chữ viện thì có vẻ to, nhưng công việc thì vất vả, vất vưởng, lương thì ba cọc ba đồng. Đọc thêm ở đây để tạm hình dung tình hình.

Các viện hiện nay hoạt động theo cơ chế tự hạch toán. Có nghĩa là phần ngân sách hạn hẹp. Họ phải tự chi mọi khoản từ điện, nước, chè thuốc, internet, điện thoại, văn phòng phẩm tới 1/2 quỹ lương, tiến tới là 100% quỹ lương không được nhận hỗ trợ từ ngân sách nhà nước. So với cánh “quản lí nhà nước” ở các vụ, bộ thì họ chỉ là những nông dân lặn lội mò cua bắt ốc ngoài đồng.

Vì là viện nghiên cứu nên các nghiên cứu viên được mặc định chỉ sống bằng đề tài nghiên cứu. Trong khi đó, các đề tài nghiên cứu chủ yếu thực hiện theo phương thức đấu thầu. Mà đấu thầu thì không ai đảm bảo được họ làm sạch sẽ hay bẩn. Hơn thế nữa, không phải ai cũng có khả năng để làm chủ đề tài nghiên cứu. Do vậy, thu nhập từ khoản đề tài rất là bèo bọt, bấp bênh.

Những người làm đề tài khoa học kĩ thuật công nghệ thì còn thảm hại nữa. Để nghiên cứu, họ vô cùng  vất vả vì sản phẩm ra lò của họ phải là sản phẩm sờ mó được, không phải là mớ sản phẩm bằng giấy vứt trên nóc tủ không ai biết nó là cái gì sau khi bảo vệ nghiệm thu. Đồng chí nhà mình phải mất 10 năm trời ròng rã, lương ba cọc ba đồng (mà không phải nộp cho vợ đồng nào, cộng với sự miệt mài đến độ quên ăn quên ngủ quên cả đi vệ sinh – có lần phải vào viện vì nhịn tiểu), thân thể gầy đét xì mo theo tiêu chuẩn gầy bằng người Bangladesh, bỏ qua lời khuyên nhiệt tình của cô em gái đã đích thân kiếm cho anh trai một nơi cư trú với “tài năng tương xứng là khoảng 40 tê/tháng tại một công ti khác từ khi còn trai tráng). Mang danh bằng tiến sĩ, công tác gần 30 năm, làm việc quần quật mà mỗi tháng lương nhà nước chừng hơn 5 triệu đồng (không bằng cô dọn nhà theo giờ nhà mình). Nếu các nhân viên trẻ chưa thể tự mình gánh vác công việc thì coi như đi làm không lương luôn. Có phải ai cũng có nền tảng gia đình vững chắc để “bù lỗ”, để “thông cảm” đâu bởi “cơm áo đâu đùa với khách làng nghiên”. 10 năm ròng rã, có sản phẩm ra ứng dụng được, là một sự may mắn, một sự bù đắp (tinh thần) rồi. Có khi cả đời nghiên cứu, chả ra cái gì nữa chứ. Khi ra được sản phẩm, nếu được hỗ trợ thì còn có lí, đằng này, cũng vẫn là tự mày mò bươn chải vì để đưa một sản phẩm vào sử dụng, đâu phải thích là được đâu, mà còn phải có những “tài năng mềm” khác mà chỉ có ở Việt Nam mới thấu hiểu nó là cái gì và tại sao phải thế.

Ngoài ra các nghiên cứu viên còn phải có một sức ép lớn khác là phải tham gia vào quá trình giải trình thu chi vô cùng phức tạp, mà có những phần chi không giải trình nổi. Ấy là cái số phần trăm bắt buộc chi cho quản lí các cấp ở đơn vị nghiên cứu, bên cạnh những chi phí đi lại thực hiện đề tài, chi phí tham gia hội thảo này nọ (thường theo quy định là con số rất nhỏ nhưng các chủ đề tài vẫn phải bổ sung thêm. Tóm lại, ở Viện thì phải nghiên cứu, nhưng cứ có đề tài nghiên cứu thì thấy “méo mặt” chứ chả ham hố gì về tài chính, nếu không nói tới là muốn có một sản phẩm nào đó thực sự “để đời”. Tất nhiên những lời nói này của mình chỉ dựa vào quan sát thân nhân và bằng hữu trong nghề nghiên cứu ở viện chứ thực ra “chính chủ” chả bao giờ thổ lộ hay than phiền (vì chưa than, chưa thổ lộ đã bị mắng cho té tát rồi vì không biết bảo vệ bản thân mà lại cứ hay tự đầu độc cơ thể).

Cũng là đơn vị tự hạch toán ví dụ như trường, bệnh viện … nhưng ở trường, viện người ta có nguồn thu là học sinh, bệnh nhân nên họ không chịu sức ép khác. Nghiên cứu khoa học cũng là việc nhiều rủi ro, nhiều khi chệch hướng nghiên cứu tí chút là tiền đi tong, trong khi học phí thì vẫn thu đều đều, sinh viên thi trượt thì có phí thu lại, bệnh nhân chết thì gia đình chịu đau thương. Còn đề tài nghiên cứu mà không được thông qua thì coi như không xèng, đời dễ trở nên ăn mày như ai…. khà khà khà.

Tóm lại ai làm gì thì làm, nghiên cứu viên chuyên nghiệp ở Việt Nam vẫn còn là mảnh đất khó nhằn bởi cơ chế chưa thuận lợi cho người làm nghiên cứu. Mà chừng nào những nhà nghiên cứu còn phải bươn chải lo toan cơm áo gạo tiền với bao nhiêu sức ép, chừng nào họ còn bị đối xử rẻ rúng, lệ thuộc vào những cơ chế xin cho, chừng nào họ còn bị coi như những lao động chân tay và không được tôn trọng người ta sẽ đổ sô vào các việc buôn đầu chợ bán cuối chợ, hay làm các công việc văn phòng ăn trắng mặc trơn  thì chừng đó đất nước còn nghèo nàn và lạc hậu

************

PS: 1. Các trường đại học quốc gia có các khoa đào tạo chủ yếu nghiên cứu viên. Các viện nghiên cứu chính thuộc Viện Khoa học VN và Viện KHXH. Ngoài ra, các bộ hay các trường đều có các viện nghiên cứu trực thuộc. Ở các nước công nghiệp phát triển, các công ti đều có bộ phận nghiên cứu riêng. Các nghiên cứu viên ở đây thường lương thưởng cao hơn ở các trường. Và các trường thường có bộ phận nghiên cứu đồng thời là các giảng viên đại học. Hoạt động giảng dạy gắn liền với hoat động nghiên cứu. Trưởng nhóm nghiên cứu thường có quyền lớn và trách nhiệm cũng như sức ép lớn (công bố quốc tế) và họ ít chịu những quản lí hành chính kiểu VN…. Vài dòng vậy thôi vì viết về cái này cả quyển sách không hết.

2. Nếu hỏi có ân hận khi có chồng làm nghiên cứu ở viện không thì miềng sẽ nói là KHÔNG vì nếu làm theo đúng nghĩa của nó thì đáng trân trọng lắm.

Tagged: , ,

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: